1. Khái quát chung về đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Qua nghiên cứu lịch sử lập pháp của các quốc gia trên thế giới có thể thấy rằng, phạm vi đối tượng được trợ giúp pháp lý không những được duy trì ổn định mà còn từng bước được mở rộng theo hướng tiến bộ, phản ánh sự thay đổi trong quan điểm tiếp cận công lý và năng lực tổ chức thực hiện của các chủ thể cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, một trong những nguồn gốc thường được nhắc đến của hoạt động trợ giúp pháp lý là vào năm 451, khi Giáo hội Công giáo tại Công đồng Chalcedon đặt ra yêu cầu cho các giáo sĩ về việc cung cấp tư vấn và đại diện pháp lý cho góa phụ, trẻ mồ côi và những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây được xem là một trong những yêu cầu được xây dựng dựa trên giáo lý Kinh Thánh, trong đó nhấn mạnh nghĩa vụ của các giáo sĩ trong việc giúp đỡ người nghèo và bảo vệ họ trước sự áp bức và bóc lột.
([1]) Theo thời gian, cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật hồi giáo, các nhà hộ giáo
(Canonists) đã tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các học thuyết về hoạt động trợ giúp pháp lý, trong đó khẳng định người nghèo thường dễ bị tổn thương, dễ rơi vào tình trạng bị tác động tiêu cực bởi nguồn lực về tài chính, vị thế của tầng lớp quý tộc và lãnh chúa trong quá trình thực thi pháp luật. Và do đó, với vị thế của mình trong xã hội, các nhà hộ giáo đã đề cao trách nhiệm của các giám mục trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý đối với những người không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình.
([2]) Thực tế, tư tưởng này tiếp tục được phát triển và thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học tôn giáo của Châu Âu trong thời kỳ trung đại, trong đó có Bản tổng luận
Summa Theologiae của thánh Thomas Aquinas cũng đã khẳng định việc cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho người nghèo là một hành vi “bác ái” và có thể trở thành nghĩa vụ bắt buộc đối với các luật sư trong những trường hợp thật sự cần thiết.
([3])
Đến giữa thế kỷ XIII, cùng với sự phát triển của nghề luật sư tại Châu Âu và sự ảnh hưởng của các tư tưởng đạo giáo, các vấn đề về trợ giúp pháp lý dần được lan rộng và không còn giới hạn trong phạm vi Giáo hội mà đã bắt đầu được cung cấp bởi các tòa án. Tại Tây Ban Nha, các tòa án hoàng gia đã dần hình thành cơ chế chỉ định luật sư dành cho người nghèo (
abogados de pobres).
([4]) Tại Công quốc Savoy, Bá tước Amadeus VI cũng đã thiết lập chức danh luật sư cho người nghèo vào năm 1379.
([5]) Tại Đức, Tòa án Thượng thẩm ở quốc gia này cũng đã thiết lập cơ chế chỉ định các luật sư hỗ trợ các đương sự không có điều kiện về tài chính vào năm 1471. Tại Vương quốc Anh, mặc dù có bằng chứng cho thấy một số trường hợp luật sư có thể đã cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho người nghèo từ cuối thế kỷ XIII, nhưng các bằng chứng ghi nhận rõ ràng hơn cho hoạt động trợ giúp pháp lý ở quốc gia này chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XV. Cụ thể, vào năm 1495, Quốc hội Anh đã ban hành đạo luật quy định các thẩm phán chỉ định luật sư tham gia giải quyết vụ việc của người nghèo mà không thu phí.
([6]) Trong thời gian này, vua Henry VII trong một vụ kiện cũng đã tuyên bố:
“Chính nghĩa cần được thực thi bình đẳng cho cả người giàu và người nghèo, và thiết lập một thủ tục đặc biệt để người nghèo có thể thực hiện các quyền pháp lý của mình”.([7])
Trong giai đoạn này, mặc dù hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng được mở rộng và phạm vi đối tượng được thụ hưởng đã được xác định tương đối cụ thể, tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử cho thấy, chỉ một số rất ít người có hoàn cảnh khó khăn thực sự có thể tiếp cận sự trợ giúp pháp lý. Tại Anh, đã tồn tại những phàn nàn kéo dài về việc giới luật sư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trợ giúp pháp lý cho người nghèo như pháp luật và thông lệ quy định.
([8]) Đồng thời, từ thế kỷ XII, đã xuất hiện các tranh luận xoay quanh bản chất và nguyên nhân của nghèo đói, dẫn đến sự phân biệt giữa “người nghèo xứng đáng được giúp đỡ” và “người nghèo không xứng đáng”.
([9]) Và do đó, những người bị xem là tự gây ra hoàn cảnh nghèo đói của mình thường không được xem là đối tượng phù hợp để được trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, từ thế kỷ XVI, tiêu chí xác định “người nghèo xứng đáng” càng được các tòa án ở Châu Âu áp dụng một cách chặt chẽ và do đó đã ảnh hưởng đến việc chỉ định luật sư trợ giúp pháp lý trong các vụ án tranh tụng, thậm chí còn dẫn đến việc nhiều nhóm yếu thế bị loại trừ khỏi hệ thống hỗ trợ.
([10])
Đến giữa thế kỷ XIX, xuất phát từ nhiều yếu tố mang tính xã hội - chính trị đã dẫn đến nhu cầu hình thành hệ thống trợ giúp pháp lý có tổ chức và các cơ chế bảo vệ pháp lý cho người yếu thế mà không chỉ dừng lại ở “người nghèo”. Đặc biệt, với sự phát triển của ngành công nghiệp vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều dạng vấn đề pháp lý mới xuất hiện, phản ánh sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội và tính chất của các quan hệ xã hội. Chẳng hạn như tại Bỉ, các vụ tai nạn tại nơi làm việc đã trở thành một trong những lý do phổ biến khiến người lao động nói chung cũng đã trở thành đối tượng được trợ giúp pháp lý.
([11]) Tại Hàn Quốc, các đối tượng như nạn nhân bạo lực gia đình cũng bắt đầu được các công ty trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ nhằm giải quyết tình trạng bất bình đẳng giới kể từ khi quốc gia này kết thúc chiến tranh với Triều Tiên vào năm 1950.
([12])
Từ việc nghiên cứu lịch sử lập pháp và thực tiễn hình thành, phát triển của hoạt động trợ giúp pháp lý tại nhiều nước trên thế giới, có thể khẳng định phạm vi đối tượng được trợ giúp pháp lý đang có sự duy trì, đồng thời từng bước được mở rộng nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý. Trong đó, những người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý là những đối tượng cơ bản, phổ biến ở tất cả các nước, thậm chí là đối tượng duy nhất được trợ giúp pháp lý trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới hiện nay.
([13]) Ngoài ra, bên cạnh nhóm đối tượng là người không đủ khả năng tài chính, xu hướng chung của pháp luật trợ giúp pháp lý ở một số quốc gia hiện nay cũng đang từng bước ghi nhận là những người yếu thế không có khả năng tự bảo vệ cũng được sự trợ giúp về pháp luật mà không cần yêu cầu điều kiện có khó khăn về tài chính, như người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người khuyết tật, người chưa thành niên, nạn nhân của tội mua bán người, nạn nhân bạo lực gia đình,...
2. Thực tiễn quy định về người được trợ giúp pháp lý tại một số quốc gia
Tại Cộng hòa Nam Phi, không có một giới hạn cụ thể nào được quy định về phạm vi người được trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc có tính chất hình sự. Theo đó, khoản 2 và 3 Điều 35 Hiến pháp Nam Phi đề cập đến việc cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho những người bị bắt, tạm giam và người bị buộc tội, “nếu không sẽ dẫn đến bất công đáng kể”. Hiến pháp cũng quy định rằng những người đó có quyền “có một luật sư do Nhà nước chỉ định cho bị cáo và do Nhà nước chi trả”. Đối với trợ giúp pháp lý trong các vụ việc dân sự, Hiến pháp đặt ra nghĩa vụ đặc biệt đối với Nhà nước trong việc cung cấp trợ giúp pháp lý cho trẻ em dưới mười tám tuổi mà “nếu không có sự trợ giúp đó sẽ dẫn đến sự bất công nghiêm trọng”.
([14]) Ngoài ra, Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi cũng không có quy định bổ sung nào yêu cầu cụ thể việc cung cấp trợ giúp pháp lý trong các vụ việc dân sự khác. Theo đó, Hiến pháp quy định rằng “mọi người đều có quyền được giải quyết bất kỳ tranh chấp nào bằng cách áp dụng luật pháp, được quyết định tại một phiên tố tụng công khai tại tòa án hoặc tại một diễn đàn độc lập và khách quan khác”.
([15]) Thực tế, quy định này đặt ra câu hỏi liệu Nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp trợ giúp pháp lý cho bất kỳ cá nhân nào trong vụ án dân sự khi họ không có khả năng thuê luật sư hay không? Khác với trường hợp của những người bị bắt, bị giam giữ hoặc bị buộc tội, Hiến pháp không áp đặt nghĩa vụ cụ thể nào đối với Nhà nước trong việc phải cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho đương sự trong các vụ kiện dân sự.
Trong bối cảnh đó, việc xác định phạm vi trợ giúp pháp lý trong các vụ việc dân sự tại Nam Phi chủ yếu được thực hiện thông qua các văn bản hướng dẫn do Hội đồng Trợ giúp pháp lý ban hành. Để bảo đảm sự minh bạch và thống nhất trong áp dụng, Nam Phi thiết lập hệ thống “kiểm tra điều kiện kinh tế” nhằm đánh giá khả năng chi trả của người yêu cầu. Cơ chế này xem xét tổng thu nhập của cá nhân và, nếu có, của cả vợ hoặc chồng để xác định khả năng tự thanh toán chi phí pháp lý. Chỉ những trường hợp đáp ứng ngưỡng thu nhập do Hội đồng quy định mới thuộc diện được xem xét cung cấp trợ giúp pháp lý trong các vụ việc dân sự.
([16])
Tại Hàn Quốc, để được trợ giúp pháp lý, Quy định nội bộ của Tổng công ty trợ giúp pháp lý Hàn Quốc quy định rằng, về nguyên tắc, công dân “có thu nhập dưới 125% thu nhập trung bình do Bộ Y tế và Phúc lợi thiết lập” mới có thể đủ điều kiện nhận hỗ trợ pháp lý.
([17]) Theo đó, hệ thống trợ giúp pháp lý Hàn Quốc áp dụng cách tiếp cận bao hàm trong đó việc cung cấp hỗ trợ pháp lý cho cả cư dân nước ngoài có thu nhập dưới 125% mức thu nhập trung bình. Đồng thời, đối với tư vấn pháp lý cơ bản, chính sách được mở rộng: tư vấn pháp lý miễn phí được cung cấp cho tất cả người nước ngoài cư trú tại Hàn Quốc, không phụ thuộc vào tình trạng lưu trú, bao gồm cả những người lưu trú bất hợp pháp, người xin tị nạn, người tị nạn và người không quốc tịch và công dân mới nhập tịch gặp rào cản ngôn ngữ.
Tại Israel, trong cả lĩnh vực dân sự và hình sự, trợ giúp pháp lý được xác định chỉ áp dụng đối với các cá nhân có thu nhập và tài sản ở mức rất thấp. Đối với trợ giúp pháp lý dân sự, người yêu cầu cần phải đáp ứng đồng thời điều kiện về thu nhập
([18]) và chứng minh tính hợp lý của vụ kiện (bảo đảm rằng yêu cầu khởi kiện không thiếu căn cứ hay có dấu hiệu lạm dụng). Trong lĩnh vực hình sự, người bị buộc tội chỉ được trợ giúp pháp lý nếu phải đối mặt với mức án phát tù, trừ trường hợp việc chỉ định luật sư là bắt buộc theo quy định.
([19]) Tuy nhiên, để bảo đảm tuân thủ Hiến pháp Israel và các công ước quốc tế về quyền con người mà Israel là thành viên, tòa án có quyền xem xét và quyết định chỉ định trợ giúp viên pháp lý đối với các bị cáo hoặc người bị tạm giữ không đáp ứng điều kiện hưởng trợ giúp pháp lý, nếu việc không có luật sư được đánh giá sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi pháp lý cơ bản của họ.
([20]) Quyền này được tòa án thực hiện không phụ thuộc vào khả năng tài chính hay mong muốn của bị cáo.
Tại Trung Quốc, diện người được Trợ giúp pháp lý được xác định tương đối cụ thể, rải rác ở nhiều quy định khác nhau, bao gồm trong các lính vực tố tụng hình sự, dân sự và thủ tục hành chính. Trong đó, đối với lĩnh vực tố tụng hình sự, Luật quy định hai nhóm chủ thể chính như sau: (i) Nhóm được trợ giúp pháp lý bắt buộc: gồm người chưa thành niên, người có khuyết tật về thị giác, thính giác hoặc ngôn ngữ, người không thể nhận thức đầy đủ hành vi của chính mình, người có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình; bị cáo trong các vụ án hình sự xét xử vắng mặt; hoặc người áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc mà không có người đại diện;
([21]) (ii) Nhóm có quyền yêu cầu trợ giúp nếu gặp khó khăn kinh tế hoặc thuộc trường hợp đặc biệt như các nghi phạm và bị cáo trong các vụ án hình sự không có luật sư bào chữa do khó khăn về tài chính; bị hại trong vụ án do viện kiểm sát truy tố, người khởi tố tư trong vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của cá nhân; nguyên đơn dân sự trong các vụ án hình sự hoặc đương sự và thân nhân của họ trong các vụ việc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng phát sinh thủ tục kháng nghị theo thủ tục đặc biệt.
([22])
Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực dân sự và hành chính, Luật liệt kê cụ thể các tranh chấp được yêu cầu trợ giúp bao gồm cá nhân gặp khó khăn về tài chính, không thuê được người đại diện tố tụng, khi tham gia các vụ việc liên quan đến yêu cầu bồi thường của Nhà nước; hưởng bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp tử tuất; nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng; quan hệ và quyền lợi lao động; xác định năng lực hành vi dân sự; yêu cầu bồi thường thiệt hại về thân thể do tai nạn, sự cố y tế, an toàn thực phẩm, thuốc; bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, hủy hoại sinh thái và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
([23]) Ngoài ra, Luật cũng quy định một số trường hợp đặc biệt được miễn điều kiện khó khăn tài chính như thân nhân của anh hùng, liệt sĩ khi thực hiện việc bảo vệ quyền nhân thân của anh hùng, liệt sĩ; cá nhân yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích dân sự phát sinh từ hành vi nghĩa hiệp; người yêu cầu bồi thường của Nhà nước sau khi được xác định là không có tội thông qua thủ tục xét xử lại và thay đổi bản án; người bị xâm hại, bỏ rơi hoặc bị bạo lực gia đình khi yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích dân sự; và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
([24])
Ngoài ra, tại một số quốc gia cũng có các quy định về một số nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương thì sẽ được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí mà không cần chứng minh điều kiện tại chính. Cu thể, Tại Hungary, các đối tượng này bao gồm người vô gia cư, người đang hưởng trợ cấp phúc lợi xã hội và người xin tị nạn;
([25]) trong khi đó tại Litva, nhóm đối tượng được bảo đảm trợ giúp pháp lý miễn phí bao gồm những người dễ bị tổn thương về mặt xã hội hoặc người khuyết tật.
([26])
Từ việc so sánh quy định của một số quốc gia trên thế giới về phạm vi người được trợ giúp pháp lý cho thấy, mặc dù có sự khác biệt về cách tiếp cận và kỹ thuật lập pháp, song các hệ thống pháp luật đều thống nhất ở mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho các cá nhân không có hoặc không đủ khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong đó, người nghèo và người gặp khó khăn về tài chính tiếp tục là nhóm đối tượng cơ bản và phổ biến nhất của chính sách trợ giúp pháp lý. Đồng thời, thực tiễn quốc tế cũng cho thấy xu hướng mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý đối với các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Những kinh nghiệm này là cơ sở quan trọng để xem xét việc hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam theo hướng vừa bảo đảm tính kế thừa, ổn định, vừa mở rộng hợp lý phạm vi đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận công lý thực chất với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên./.
[1] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
Histories of Legal Aid: A Comparative and International Perspective, Palgrave Macmillan, tr.3, truy cập:
https://link.springer.com/book/10.1007/978-3-030-80271-4
[4] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
tlđd
[5] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
tlđd
[6] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
tlđd
[9] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
tlđd
[11] Felice Batlan, Marianne Vasara-Aaltonen (2021),
tlđd
[13] Một số nước như Indonesia, Hà Lan, bang Victoria (Úc), Campuchia, Nhật Bản
[14] Điểm h khoản 1 Điều 28 Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi quy định: “1. Mọi trẻ em đều có các quyền sau đây: h) được Nhà nước chỉ định người hành nghề luật và chi trả chi phí trong các vụ việc dân sự liên quan đến trẻ em, trong trường hợp nếu không thực hiện thì có thể dẫn đến sự bất công nghiêm trọng;”
[15] Điều 34 Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi
[16] Ví dụ như Nghị quyết của Hội đồng trợ giúp pháp lý ngày 31/4/2004 (Resolution of Legal Aid Board)
[17] Điều 5, đoạn 1 Quy định của KLAC về các vụ án trợ giúp pháp lý (trích dẫn theo PILnet (2022), Country-Level Memorandum: South Korea, Provision of Legal Aid for Asylum-Seekers, Refugees, and Others Forcibly Displaced in Asia, xem thêm: https://www.pilnet.org/wp-content/uploads/2022/11/Legal-Aid-Memo-SOUTH-KOREA.pdf)
[18] Theo đó, những người có thu nhập và tài sản dưới ngưỡng quy định sẽ được đại diện pháp lý miễn phí, trong khi những người có thu nhập hoặc tài sản cao hơn sẽ được hưởng trợ giúp pháp lý với mức phí giảm. Mức đóng góp cụ thể của từng trường hợp sẽ được xác định dựa trên thu nhập, tài sản và nghĩa vụ tài chính của người yêu cầu.
[19] Ngoài ra, việc chỉ định trợ giúp viên pháp lý là bắt buộc trong ba trường hợp: (i) các vụ án có thể bị tuyên án tử hình; (ii) các vụ án có khung hình phạt tù từ mười năm trở lên; và (iii) các trường hợp bị cáo không có khả năng tự bào chữa do hạn chế về thể chất hoặc tinh thần. Xem: Moshe Hacohen (2009),
Making Legal Aid a Reality: A Resource Book for Policy Makers and Civil Society, tr.54
)
[20] Điểm b khoản 18 luật Công tố viên Công cộng Israel năm 1995 (Israeli Public Defender Statute of 1995). Trích dẫn theo Moshe Hacohen (2009),
tlđd
[21] Điều 25 và Điều 28 Luật Trợ giúp pháp lý Trung Quốc năm 2021
[22] Điều 24, Điều 29 và Điều 33 Luật Trợ giúp pháp lý Trung Quốc năm 2021
[23] Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý Trung Quốc năm 2021
[24] Điều 32 Luật Trợ giúp pháp lý Trung Quốc năm 2021
[25] Đoạn 2, phần 5 Luật số LXXX về Trợ giúp pháp lý tại Hungary
[26] Điều 12 Luật sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý do Nhà nước bảo đảm của Cộng hòa Litva năm 2005 (Law Amending the Law on State-Guaranteed Legal Aid of the Republic of Litva)