Hòa giải ở cơ sở là một trong những thiết chế xã hội mang đậm bản sắc văn hóa pháp lý Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển song hành với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ lâu, phương châm giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng con đường “thấu tình, đạt lý”, “dĩ hòa vi quý” đã trở thành truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, hòa giải ở cơ sở không chỉ là một tập quán xã hội tốt đẹp mà còn được Nhà nước thể chế hóa thành một thiết chế pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết tranh chấp, phòng ngừa vi phạm pháp luật, giữ gìn ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ngay từ cơ sở.
Nhận thức sâu sắc vai trò của hòa giải ở cơ sở, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm củng cố, phát huy hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án này. Các văn kiện của Đại hội XIII của Đảng, Kết luận số 13-KL/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng nhiều nghị quyết, chương trình mục tiêu quốc gia đã khẳng định tiếp tục gìn giữ và phát huy hoạt động hòa giải ở cơ sở, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện dân chủ ở cơ sở, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20/6/2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Sau hơn 12 năm thi hành, Luật đã phát huy tác dụng tích cực trong đời sống xã hội, góp phần giải quyết hàng triệu vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, hạn chế khiếu kiện, giảm tải cho các cơ quan tư pháp và hành chính nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, cùng những biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, trong đó có các quy định pháp luật về tổ hòa giải và hòa giải viên đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập.
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua, bài viết tập trung đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở; chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ hòa giải và hòa giải viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở trong thời gian tới.
1. Thực trạng tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở
1.1. Về tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên
Tổ hoà giải ở cơ sở là tổ chức quần chúng của Nhân dân thực hiện hoà giải tại chỗ, kịp thời, thường xuyên các mâu thuẫn, vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, chủ động phòng ngừa vi phạm pháp luật và góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Theo khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở: Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố). Mô hình tổ chức của tổ hòa giải ở cơ sở chủ yếu được thành lập theo địa bàn thôn, tổ dân phố.
Sau hơn 12 năm triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, hệ thống tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên đã được hình thành, củng cố và phát triển rộng khắp trên phạm vi cả nước. Tính đến ngày 31/5/2025, cả nước có trên 85.000 Tổ hòa giải được thành lập tại các thôn, tổ dân phố, về cơ bản bảo đảm mỗi thôn, tổ dân phố có một Tổ hòa giải.
Mỗi tổ hòa giải có từ 05 đến 07 hòa giải viên, với sự tham gia của nhiều thành phần dân cư, đại diện trong xã hội, có hòa giải viên nữ, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Tổ hòa giải thường có Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố, Trưởng ban Ban công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trưởng các tổ chức đoàn thể tại thôn, tổ dân phố (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng dân cư…). Các thành viên Tổ hòa giải đều là những người có phẩm chất đạo đức tốt, sống gương mẫu, có uy tín, có khả năng vận động, thuyết phục nhân dân chấp hành pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình tham gia công tác hòa giải, được bầu chọn công khai, dân chủ trong cộng đồng. Đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp gắn bó với Nhân dân, am hiểu phong tục, tập quán, tâm lý cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận, vận động và thuyết phục các bên tranh chấp.
Đội ngũ hòa giải viên không ngừng được củng cố về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng. Tính đến tháng 6 năm 2025, cả nước có 538.313 hòa giải viên. Khoảng 72% hòa giải viên được tham gia bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ hàng năm; một bộ phận đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về pháp luật, trong đó có hơn 13.409 hòa giải viên có trình độ chuyên môn luật. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
1.2. Về kết quả hoạt động hòa giải
Hoạt động hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua số lượng vụ việc được tiếp nhận và tỷ lệ hòa giải thành tương đối cao. Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2025, cả nước đã tiếp nhận trên 1,36 triệu vụ, việc hòa giải; trong đó gần 1,1 triệu vụ, việc hòa giải thành, đạt tỷ lệ trung bình trên 81%. Nhiều địa phương duy trì tỷ lệ hòa giải thành ở mức cao trên 90%, cho thấy hiệu quả rõ nét của công tác hòa giải ở cơ sở.
Các vụ việc được hòa giải chủ yếu phát sinh trong các lĩnh vực dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình, quan hệ láng giềng, tranh chấp nhỏ trong sinh hoạt cộng đồng. Thông qua hòa giải, nhiều mâu thuẫn được giải quyết kịp thời, không để kéo dài, phức tạp hóa hoặc phát sinh thành điểm nóng về an ninh trật tự. Ở những địa phương làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở, tình hình an ninh, trật tự xã hội nhìn chung ổn định, số vụ vi phạm pháp luật hình sự thấp hơn so với mặt bằng chung.
Không chỉ dừng lại ở việc giải quyết tranh chấp, hòa giải ở cơ sở còn gắn liền với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên đã giải thích, hướng dẫn các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật ngay từ cơ sở. Qua đó, vai trò, ý nghĩa nhân văn của hòa giải ở cơ sở trong việc củng cố tình làng nghĩa xóm, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, văn minh ngày càng được khẳng định.
2. Những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật về tổ hòa giải và hòa giải viên và nguyên nhân
2.1. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 cho thấy còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, mặc dù số lượng Tổ hòa giải và hòa giải viên lớn, song hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với nguồn lực được đầu tư. Chất lượng hòa giải viên ở các địa phương chưa đồng đều, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều hoà giải viên còn hạn chế về kỹ năng hoà giải, chủ yếu hòa giải bằng kinh nghiệm của bản thân, vẫn còn hòa giải viên có tâm lý ngại va chạm, chưa mạnh dạn trong việc phân tích, thuyết phục các bên. Trung bình mỗi Tổ hòa giải chỉ tiến hành khoảng 1,5 vụ, việc hòa giải mỗi năm, cho thấy Tổ hòa giải hoạt động chưa thật sự hiệu quả, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm (bởi số lượng vụ việc dân sự mà ngành tòa án thụ lý giải quyết tăng hàng năm). Bên cạnh đó, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định hoạt động hòa giải chủ yếu mang tính tự nguyện, phi lợi nhuận, do tổ hòa giải thực hiện. Đây là mô hình tự quản của người dân, với mục tiêu vì lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng. Do đó, hòa giải viên là người dân, hoạt động không chuyên nghiệp, không được đào tạo bài bản, kiến thức pháp luật rất hạn chế. Trong khi đó, bối cảnh hiện nay nảy sinh nhiều tranh chấp phức tạp, các mối quan hệ xã hội đan xen, đòi hỏi hòa giải viên phải có kiến thức pháp luật chuyên sâu về dân sự, hôn nhân - gia đình, đất đai và kỹ năng hòa giải chuyên nghiệp. Sự thiếu chuyên nghiệp của tổ hòa giải cơ sở dẫn đến tổ hòa giải chi tiến hành hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ nhặt (như cãi vã, xô xát nhau do khác nhau về quan điểm sống, lối sống; chưa giải quyết được những tranh chấp dân sự, đất đai, thừa kế… vì vậy, hiệu quả hòa giải không cao, dẫn đến nhiều vụ việc phải chuyển sang cơ quan hành chính hoặc tòa án, gây tốn kém và quá tải hệ thống tư pháp.
Thứ hai, quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên còn chung chung, mang tính định tính cao, thiếu tiêu chí cụ thể để đánh giá và áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Khoản 1 Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 quy định hòa giải viên phải “có phẩm chất đạo đức tốt”, “có uy tín trong cộng đồng dân cư”, “có hiểu biết pháp luật”, tuy nhiên các tiêu chí này chưa được lượng hóa hoặc hướng dẫn cụ thể bằng các tiêu chí nhận diện, đánh giá rõ ràng. Việc thiếu vắng các chuẩn mực cụ thể dẫn đến tình trạng mỗi địa phương hiểu và vận dụng khác nhau, phụ thuộc nhiều vào nhận xét chủ quan, cảm tính của cộng đồng hoặc người giới thiệu, đề cử. Trên thực tế, “uy tín” trong cộng đồng không đồng nhất với năng lực hòa giải; “hiểu biết pháp luật” không được xác định ở mức độ khả năng phân tích, vận dụng pháp luật. Vì thế có trường hợp hòa giải viên được lựa chọn chủ yếu vì vị thế xã hội hoặc tuổi tác, kinh nghiệm sống, trong khi họ lại hạn chế về trình độ học vấn, khả năng tiếp cận và cập nhật pháp luật, kỹ năng hòa giải. Đặc biệt, Luật không quy định tiêu chuẩn về trình độ văn hóa tối thiểu đã tạo ra khoảng trống pháp lý, khiến nhiều hòa giải viên gặp khó khăn trong việc nghiên cứu văn bản pháp luật, lập biên bản hòa giải, phân tích quyền và nghĩa vụ của các bên, nhất là đối với các vụ việc phức tạp, có yếu tố pháp lý đan xen (qua khảo sát của Bộ Tư pháp tại một số địa phương, tình trạng hòa giải viên có trình độ học vấn THCS cũng chiếm tỷ lệ nhất định).
Thứ ba, quy trình bầu, công nhận hòa giải viên còn mang nặng tính hành chính, chưa phản ánh đúng bản chất tự nguyện, tự quản của tổ hòa giải ở cơ sở. Mặc dù Luật Hòa giải ở cơ sở và Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN đã quy định tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục bầu và công nhận hòa giải viên, song trên thực tế, quy trình này gồm nhiều bước, nhiều khâu, đòi hỏi tổ chức họp, lập danh sách, thông báo công khai, tổ chức cuộc họp để bầu hoặc phát phiếu bầu đến từng hộ gia đình. Trong khi đó, tổ hòa giải là mô hình cộng đồng, hoạt động trên cơ sở tự nguyện, linh hoạt, số lượng hòa giải viên thường xuyên biến động do điều kiện sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh cá nhân. Việc áp dụng cứng nhắc một quy trình mang tính hành chính đối với một tổ chức xã hội tự quản đã dẫn đến tình trạng hình thức hóa trong tổ chức bầu cử, thậm chí hợp thức hóa các thủ tục để kịp thời bổ sung, thay thế hòa giải viên. Mặt khác, trên thực tế, thành viên tổ hòa giải thường là những người đang giữ các chức danh không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố hoặc người có uy tín trong cộng đồng; việc tổ chức đầy đủ các bước bầu cử theo quy định nhiều khi không phù hợp với điều kiện thực tiễn, làm tăng gánh nặng thủ tục, giảm tính linh hoạt và chủ động của cộng đồng dân cư.
Thứ tư, Luật Hòa giải ở cơ sở chưa quy định cụ thể các trường hợp phải kiện toàn tổ hòa giải. Hòa giải viên chủ yếu hoạt động trên cơ sở tự nguyện, không hưởng lương, dễ phát sinh nhu cầu xin thôi vì lý do sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình hoặc công việc khác. Do đó, nhiều địa phương lúng túng trong xử lý kiện toàn tổ hòa giải.
Thứ năm, quyền, nghĩa vụ và chế độ, chính sách đối với hòa giải viên và người tham gia hòa giải chưa thực sự tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ và chưa tạo được động lực bền vững. Mặc dù Luật Hòa giải ở cơ sở đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, góp phần nâng cao vị thế pháp lý của hòa giải viên và thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của họ, song trên thực tế, chế độ thù lao hòa giải theo vụ việc theo Thông tư số 56/2023/TT-BTC ở mức thấp, chủ yếu mang tính động viên tinh thần, chưa tương xứng với công sức, thời gian và trách nhiệm của hòa giải viên, đặc biệt đối với những vụ việc phức tạp, kéo dài. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa có quy định về chế độ, chính sách hỗ trợ đối với người được mời tham gia hòa giải như người có uy tín, người có chuyên môn, hiểu biết pháp luật, trong khi vai trò của họ trên thực tế là rất quan trọng. Sự thiếu hụt về chính sách này làm hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội tham gia vào công tác hòa giải.
Thứ sáu, sự thiếu thống nhất giữa các quy định về nghĩa vụ của hòa giải viên với một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật liên quan cũng là một bất cập đáng chú ý. Điều này gây khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa hoạt động hòa giải ở cơ sở với hòa giải, đối thoại trong tố tụng, ảnh hưởng đến việc phối hợp giữa các thiết chế giải quyết tranh chấp. Đồng thời, các biện pháp khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở theo Nghị định số 15/2024/NĐ-CP còn mang tính hình thức, giá trị khuyến khích chưa cao, chưa đủ sức thu hút sự tham gia thực chất của các tổ chức, cá nhân ngoài khu vực nhà nước.
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Trước hết, nguyên nhân xuất phát từ tư duy xây dựng pháp luật tại thời điểm ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, khi hòa giải ở cơ sở chủ yếu được nhìn nhận là hoạt động mang tính xã hội, cộng đồng, dựa trên uy tín, kinh nghiệm sống và sự tự nguyện của người dân. Cách tiếp cận này phù hợp trong giai đoạn đầu, góp phần huy động đông đảo lực lượng xã hội tham gia hòa giải, nhưng đồng thời cũng dẫn đến việc quy định tiêu chuẩn hòa giải viên theo hướng định tính, khái quát, chưa chú trọng đầy đủ đến yêu cầu về trình độ, kỹ năng pháp lý và năng lực thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp, quan hệ xã hội ngày càng đa dạng.
Thứ hai, quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan đến hòa giải ở cơ sở chưa theo kịp sự thay đổi của hệ thống pháp luật và mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Trong khi nhiều luật mới, bộ luật quan trọng được ban hành hoặc sửa đổi (như Bộ luật Tố tụng dân sự, các luật chuyên ngành) với yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng pháp lý, phương pháp giải quyết tranh chấp, thì các quy định về hòa giải viên hầu như không được cập nhật tương xứng. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ giữa pháp luật về hòa giải ở cơ sở với pháp luật tố tụng và các cơ chế giải quyết tranh chấp khác.
Thứ ba, nguồn lực bảo đảm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên. Kinh phí dành cho đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ hoạt động hòa giải viên còn thấp, phân bổ chưa ổn định, trong khi chế độ thù lao theo vụ việc mang tính tượng trưng, chưa đủ tạo động lực lâu dài. Việc thiếu các chính sách cụ thể đối với người tham gia hỗ trợ hòa giải đã hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là đội ngũ người có chuyên môn, hiểu biết pháp luật.
Thứ tư, nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền cơ sở và cộng đồng dân cư về vai trò của hòa giải viên chưa đầy đủ, chưa tương xứng với vị trí của hòa giải ở cơ sở trong hệ thống pháp luật. Ở một số nơi, công tác hòa giải vẫn bị xem là hoạt động phụ, mang tính phong trào, dẫn đến việc chưa quan tâm đúng mức đến việc lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ hòa giải viên; điều này tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thực hiện các quy định pháp luật liên quan.
3. Đề xuất sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ hòa giải và hòa giải viên
Một là, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên và sửa đổi quy định về thành phần của tổ hòa giải theo hướng cụ thể hóa, khả thi và bảo đảm áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Theo đó, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở theo hướng vừa giữ được tính mở, linh hoạt của mô hình hòa giải cộng đồng, vừa bổ sung các tiêu chí tối thiểu có thể định lượng được, như yêu cầu về trình độ văn hóa phù hợp, khả năng đọc hiểu và vận dụng pháp luật, kỹ năng giao tiếp và hòa giải. Cần có hướng dẫn cụ thể về cách thức đánh giá “uy tín trong cộng đồng” và “hiểu biết pháp luật” nhằm hạn chế sự tùy tiện, cảm tính trong lựa chọn hòa giải viên. Đồng thời, cần mở rộng đối tượng hòa giải viên đối với người đang là Tổ viên Tổ bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở. Đây đều là những đối tượng có trình độ hiểu biết pháp luật theo quy định tại các Luật chuyên ngành hoặc thông thạo địa bàn; nắm vững phong tục, tập quán sinh hoạt, trình độ và nhu cầu thông tin của người dân ở địa phương, có thể sử dụng thông thạo tiếng dân tộc thiểu số tại địa phương hoặc góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Tổ viên Tổ bảo vệ an ninh trật tự tại cơ sở).
Hai là, đổi mới quy trình bầu, công nhận và cho thôi làm hòa giải viên theo hướng đơn giản, linh hoạt, phù hợp với bản chất tự quản của tổ hòa giải ở cơ sở. Pháp luật cần cho phép địa phương chủ động áp dụng các hình thức lựa chọn, công nhận hòa giải viên phù hợp với điều kiện thực tiễn, giảm bớt các thủ tục mang tính hình thức, hành chính hóa, đặc biệt trong trường hợp bổ sung, thay thế hòa giải viên. Đồng thời, cần quy định rõ các trường hợp và trình tự cho thôi làm hòa giải viên nhằm bảo đảm tính minh bạch, kịp thời và không làm gián đoạn hoạt động hòa giải.
Ba là, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định về hòa giải viên với pháp luật tố tụng và các thiết chế giải quyết tranh chấp khác. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Hòa giải ở cơ sở cần được đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp, làm rõ vai trò, phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của hòa giải viên, tránh chồng chéo, mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật liên quan.
Bốn là, hoàn thiện chế độ, chính sách đối với hòa giải viên và người tham gia công tác hòa giải theo hướng tạo động lực thực chất, lâu dài. Cần nghiên cứu điều chỉnh mức thù lao hòa giải phù hợp hơn với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc; đồng thời bổ sung quy định về chế độ hỗ trợ đối với người được mời tham gia hòa giải có uy tín, chuyên môn, kinh nghiệm. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các chính sách khuyến khích xã hội hóa, tạo cơ chế thực chất để huy động sự tham gia, đóng góp của tổ chức, cá nhân cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Năm là, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc quản lý, hướng dẫn, bồi dưỡng và giám sát hoạt động của hòa giải viên. Việc hoàn thiện pháp luật cần song hành với nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm đội ngũ hòa giải viên được lựa chọn đúng, được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên và được ghi nhận, tôn vinh xứng đáng với vai trò của mình trong giữ gìn đoàn kết cộng đồng, phòng ngừa và hạn chế tranh chấp, khiếu kiện.
Việc nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về tổ hòa giải và hòa giải viên là yêu cầu khách quan, cấp thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên và hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ xây dựng Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội thông qua vào năm 2026. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất định hướng hoàn thiện, bài viết kỳ vọng sẽ góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới, qua đó phát huy vai trò của hòa giải ở cơ sở trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, phục vụ hiệu quả yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới./.
Nguyễn Thị Tâm
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp