1. Đặt vấn đề
Hòa giải ở cơ sở là một phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ sở mang đậm nét văn hóa truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hoạt động hòa giải nhằm xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để hàn gắn lại mối quan hệ đã bị phá vỡ trên tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của quần chúng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra ở cơ sở để giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp trong nội bộ Nhân dân. Chính vì vậy, công tác hòa giải ở cơ sở thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân, giữ vai trò quan trọng góp phần ổn định trật tự trong đời sống xã hội. Nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác hòa giải ở cơ sở, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác này, luôn coi việc khuyến khích, tăng cường công tác hòa giải là một chủ trương nhất quán trong quản lý xã hội. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014. Để triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở; Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ký Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở… Thể chế pháp luật về hòa giải ở cơ sở tương đối đầy đủ đã tạo khung pháp lý vững chắc cho việc tổ chức và hoạt động của công tác hòa giải ở cơ sở, xác định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong công tác hoà giải ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của Tổ hòa giải, hòa giải viên.
Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Góp phần vào kết quả chung đó có vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở. Với hơn 80.000 Tổ hòa giải và hơn 500.000 hòa giải viên trên cả nước, hằng năm các tổ hòa giải ở cơ sở đã tiến hành hòa giải hơn 120.000 vụ việc, tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 80%. Việc hòa giải dựa trên phương châm “thấu tình đạt lý”, các bên thông hiểu lẫn nhau, do đó khi hòa giải thành các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận. Điều này giúp xóa bỏ và triệt tiêu bất ổn xã hội, không để hình thành “điểm nóng”. Thông qua hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên còn vận động nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, phát huy tinh thần đoàn kết, nâng cao niềm tin đối với Đảng, Nhà nước, góp phần giữ gìn kỷ cương xã hội.
Tuy nhiên, việc triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản thi hành trong thời gian qua cũng tồn tại một số hạn chế, một số quy định của Luật còn bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó có quy định giá trị pháp lý của kết quả thỏa thuận hòa giải thành trọng tự nguyện, trọng tự quản, chưa có cơ chế pháp lý tại Luật Hòa giải ở cơ sở cưỡng chế thực hiện. Khoản 2 Điều 24 Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành gồm các nội dung chính sau đây…”. Điều 25 của Luật quy định các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành và Điều 26 quy định hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện... Vì văn bản hoà giải thành cũng không bắt buộc phải lập trong trường hợp hoà giải thành nên có thể trên thực tế nhiều trường hợp sau khi hoà giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện thoả thuận thì hoà giải viên hoặc tổ hoà giải không có cơ chế xử lý đối với vụ việc vi phạm thoả thuận nói chung và các thoả thuận liên quan đến tài sản, đất đai…. nói riêng.
Trong bối cảnh mới hiện nay thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Hội nghị lần thứ 11 và Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, cả nước đã tiến hành sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện. Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định: “Kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp; có giải pháp khuyến khích, phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài toà án…”; “Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền tối đa”. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế về công tác hoà giải ở cơ sở rất cần thiết, trong đó có quy định nhằm bảo đảm công nhận giá trị pháp lý của hoà giải thành trên thực tế trong thời gian tới, từ đó góp phần nâng cao vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới. Tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc cũng cho thấy, Luật Hoà giải Nhân dân của Trung Quốc đã quy định 01 Chương riêng về thoả thuận hoà giải, trong đó quy định các bên thoả thuận hoà giải được lập thành văn bản hoặc thoả thuận bằng lời nói (miệng). Đồng thời quy định thỏa thuận hòa giải bằng văn bản sẽ có hiệu lực từ ngày các bên liên quan ký, đóng dấu hoặc lăn vân tay vào bản thỏa thuận và các hòa giải viên nhân dân ký và đóng dấu của ủy bản hòa giải nhân dân vào văn bản. Mỗi bên liên quan sẽ giữ một bản và ủy bản hòa giải nhân dân sẽ lưu giữ một bản....
2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật nhằm xác định giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành trong dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi)
Căn cứ cơ sở thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm về hoà giải ở Trung Quốc, cần nghiên cứu xem xét sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật nhằm xác định giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành trong dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) như sau:
Thứ nhất, xem xét quy định việc lập văn bản hoà giải thành là nghĩa vụ của các bên trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận nhằm bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch và khả năng thực thi của kết quả hòa giải. Đồng thời, nghiên cứu xem xét quy định thoả thuận hoà giải miệng (bằng lời nói) trong một số trường hợp nhất định giữa các bên trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, qua đó tạo sự linh hoạt cho hoạt động hòa giải, nhất là tại cơ sở, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện lập văn bản còn hạn chế.
Thứ hai, bổ sung quy định cụ thể về thời điểm có hiệu lực của văn bản hoà giải thành theo hướng có thể quy định có hiệu lực kể từ ngày các bên ký văn bản hòa giải thành (tương tự như Luật Hoà giải nhân dân của Trung Quốc) và các bên bị ràng buộc trách nhiệm bởi văn bản hoà giải thành. Quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các bên thực hiện thỏa thuận, xác lập trách nhiệm pháp lý của các bên bởi văn bản hòa giải thành, đồng thời làm căn cứ để xử lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp và không thực hiện đúng thoả thuận hoà giải. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về trách nhiệm lưu trữ văn bản hòa giải thành của các bên liên quan và của hòa giải viên (hoặc Tổ hòa giải), nhằm bảo đảm tính minh chứng, khả năng tra cứu, kiểm tra, giám sát, cũng như phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước và chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở.
Thứ ba, xem xét bổ sung nghĩa vụ của hoà giải viên và Tổ hoà giải trong việc theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thoả thuận hoà giải thành (chuyển từ trách nhiệm thành nghĩa vụ). Quy định này nhằm tăng cường hiệu lực ràng buộc của kết quả hòa giải, góp phần nâng cao vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác hoà giải ở cơ sở, tăng cường niềm tin của người dân vào cơ chế hòa giải ở cơ sở, hạn chế mâu thuẫn, tranh chấp.
Thứ tư, bổ sung các điều kiện bảo đảm nhằm thực hiện quy định nhằm xác định giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành như bảo đảm kinh phí phù hợp bảo đảm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, bao gồm kinh phí lập, lưu trữ hồ sơ hòa giải thành, theo dõi, đôn đốc thực hiện thỏa thuận và ứng dụng công nghệ thông tin (số hóa, lưu trữ điện tử văn bản hòa giải thành…). Việc chuyển từ “trách nhiệm” sang “nghĩa vụ” đối với hòa giải viên và Tổ hòa giải cần đi kèm với chính sách hỗ trợ tương xứng, tránh tạo thêm áp lực cho đội ngũ hòa giải viên hoạt động kiêm nhiệm; tăng cường bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ cho hòa giải viên, nhất là kỹ năng hướng dẫn các bên lập văn bản hòa giải thành, theo dõi việc thực hiện thỏa thuận và xử lý các tình huống phát sinh sau hòa giải…/.
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý