Giải quyết bạo lực gia đình bằng hòa giải ở cơ sở góp phần nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới

ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể thấy bạo lực gia đình là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà mang tính toàn cầu. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến bạo lực gia đình chính là sự bất bình đẳng giới. Tỷ lệ bạo lực gia đình ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị, khu vực nông thôn còn ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phong kiến truyền thống nên tình trạng người đàn ông gây ra bạo lực trong gia đình tương đối phổ biến. Bạo lực gia đình ở khu vực nông thôn phần lớn là hành vi bạo lực thể chất. Hầu hết đều cho rằng nam giới là người lãnh đạo, có quyền lực trong gia đình, có quyền kiểm soát người vợ, thậm chí có quyền dạy bảo vợ mình và nếu cần thiết có quyền sử dụng bạo lực thân thể.
Hậu quả của bạo lực gia đình hết sức nghiêm trọng, đặc biệt tác động trực tiếp đến phụ nữ và trẻ em; ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, nhân phẩm của vợ hoặc chồng, cản trở sự thăng tiến của vợ hoặc chồng, làm giảm năng suất lao động và gia đình trở thành chốn “ngục tù” - không còn là nơi an toàn, hạnh phúc theo đúng chức năng của gia đình. Bạo lực gia đình không chỉ gây tổn hại về sức khỏe, tính mạng đối với người bị bạo lực mà còn làm gia tăng tình trạng ly hôn và suy thoái các giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 đề ra mục tiêu “Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, thức đẩy bình đẳng giới”[1]. Do đó, một trong những chỉ tiêu đánh giá xã nông thôn mới là “Bảo đảm bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; phòng chống bạo lực trên cơ sở giới; phòng chống xâm hại trẻ em; bảo vệ và hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn (nếu có); bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong gia đình và đời sống xã hội” (Chỉ tiêu 18.5 thuộc tiêu chí 18 – hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật)[2].
Để phòng ngừa và xử lý hành vi bạo lực gia đình, Nhà nước đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng, có hiệu lực pháp lý cao quy định về quyền con người, bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng… như Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình… và ban hành các chế tài xử lý trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính để răn đe và xử lý hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên các biện pháp này không ngăn ngừa được bạo lực gia đình mà có thể khiến người có hành vi bạo lực gia đình thay đổi từ hình thức bạo lực này sang dạng bạo lực khác hoặc thực hiện hành vi bạo lực gia đình kín đáo hơn.
Có thể khẳng định hòa giải ở cơ sở để phòng, chống bạo lực gia đình được coi là giải pháp mang tính bền vững. Bởi đây là biện pháp giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp mang tính “đối thoại, thương lượng”, dễ thuyết phục và được các bên hiểu về quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ hôn nhân một cách tự nhiên, không ép buộc, không tạo sự căng thẳng. Sau khi hòa giải, hòa giải viên có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, cung cấp các thông tin liên quan cho các cơ quan chức năng khi cần thiết.
THỰC TRẠNG VỀ HÒA GIẢI TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Công tác hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình đã góp phần ngăn ngừa hành vi bạo lực gia đình. Theo Điều 17 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2022 thì việc hòa giải để không làm phát sinh, tái diễn hành vi bạo lực gia đình. Các chủ thể thực hiện hòa giải bao gồm thành viên gia đình, dòng họ; các cơ quan, tổ chức, tổ hòa giải ở cơ sở. Trong các chủ thể tiến hành hòa giải để phòng, chống bạo lực gia đình kể trên thì hòa giải viên ở cơ sở là người hoạt động theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận. Còn các chủ thể khác tiến hành hòa giải về phòng, chống bạo lực gia đình hoàn toàn mang tính chất cá nhân, gắn với vị trí gia đình, nghề nghiệp, cơ quan công tác của họ mà chưa có văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt quy định về trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của họ như hòa giải viên ở cơ sở.
Số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong 10 năm (từ ngày 01/7/2008 đến ngày 31/7/2018) có 1.060.767 vụ án ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực gia đình hoặc liên quan đến bạo lực gia đình trong tổng số 1.384.660 vụ án ly hôn được Tòa án nhân dân các cấp giải quyết (chiếm tỷ lệ 76,6%)[3]. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, trung bình mỗi năm, các tổ hòa giải trên cả nước tiến hành hòa giải khoảng 120.000 mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư, trong đó đa số là mâu thuẫn, tranh chấp thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Tỷ lệ hòa giải thành đạt cao, khoảng 82%. Hoạt động hòa giải đã giúp hàn gắn những rạn nứt về mặt tình cảm trong gia đình, dòng họ, mang lại sự quý mến, đoàn kết, tình yêu thương giữa các thành viên trong gia đình. Đối với mâu thuẫn, tranh chấp giữa vợ, chồng, các hòa giải viên đã giúp nhiều cặp vợ, chồng tìm được tiếng nói chung, hiểu nhau hơn và sống có trách nhiệm với gia đình, con cái, từ đó giảm số lượng đơn yêu cầu ly hôn ra tòa án giải quyết. Điều này không chỉ giúp các cặp vợ chồng giữ được mái ấm gia đình mà còn góp phần giảm tải áp lực xét xử cho ngành tòa án.
Tuy nhiên, số lượng các mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến bạo lực gia đình được hòa giải ở cơ sở còn hạn chế. Tình trạng bạo lực gia đình vẫn tiếp diễn mặc dù không phổ biến, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi điều kiện kinh tế - xã hội và mặt bằng dân trí còn hạn chế nhất định. Điều này ảnh hưởng đến việc phấn đấu xây dựng xã nông thôn mới của địa phương. Nhiều Tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở chỉ tiến hành hòa giải khi nhận được đơn yêu cầu của bên bị bạo lực gia đình hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (như Chi Hội phụ nữ, Chi Hội nông dân, Chi Hội Cựu chiến binh ở thôn/tổ dân phố). Kiến thức về giới, bình đẳng giới của hòa giải viên rất hạn chế, thậm chí có hòa giải viên còn nói những câu gây ức chế cho người được hòa giải[4]. Bên cạnh đó, hòa giải viên còn yếu về kỹ năng hòa giải, nhiều hòa giải viên tiến hành hòa giải chủ yếu bằng kinh nghiệm của bản thân do còn hạn chế về kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải, khi hòa giải cũng không phân tích, giải thích cho các bên hiểu về đạo lý, về pháp luật để họ điều chỉnh hành vi[5].
Nguyên nhân của hạn chế nêu trên là do công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho hòa giải viên chưa mang lại hiệu quả cao; các hình thức đào tạo, bồi dưỡng về bình đẳng giới, về phòng chống bạo lực gia đình chưa đáp ứng yêu cầu; tổ hòa giải ở cơ sở chưa có những người được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về công tác xã hội, tâm lý học, người có kinh nghiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình; chưa huy động được những người có kiến thức về giới, bình đẳng giới… tham gia vào công tác hòa giải ở cơ sở.
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Việc tổ chức thực hiện tốt hòa giải ở cơ sở trong phòng, chống bạo lực gia đình trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức của người có hành vi bạo lực gia đình, ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình phát sinh hoặc tái diễn; tạo lập môi trường sống thân thiện, hòa bình, gia đình đầm ấm, hạnh phúc. Do vậy, đối với công tác hòa giải ở cơ sở trong trong phòng, chống bạo lực gia đình cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình, nhưng có thể thấy nguyên nhân sâu xa chính là do nhận thức. Một thực tế không thể phủ nhận là một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng định kiến giới (trọng nam, khinh nữ), nhiều người không biết rằng sự phân biệt đối xử của họ là bất bình đẳng. Vì thế để giải quyết triệt để vấn đề bạo lực gia đình thì trước hết cần thay đổi nhận thức cho cộng đồng bằng cách truyền thông, cung cấp kiến thức cho cả cộng đồng về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, về bình đẳng giới. Xóa bỏ bất bình đẳng giới, định kiến giới và xóa bỏ bạo lực gia đình là vấn đề cấp thiết nhằm bảo đảm quyền con người, xây dựng đất nước văn minh, tiến bộ, hiện đại, hoàn thiện chế độ pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc truyền thông cần thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là sử dụng các mạng xã hội, nền tảng số như truyền hình[6], tik tok, fanpage, zalo, báo, đài…
Thứ hai, nâng cao năng lực (gồm kiến thức và kỹ năng) cho hòa giải viên ở cơ sở. Thực tế cho thấy hòa giải viên không được trang bị kiến thức và các kỹ năng đặc thù cần thiết để tiến hành hòa giải các tranh chấp liên quan đến bạo lực gia đình (như kiến thức về giới, bình đẳng giới, về định kiến giới, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, về tâm lý học của các bên…) nên chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở trong phòng, chống bạo lực gia đình chưa cao, không hiệu quả.
Thứ ba, tăng cường công tác phối hợp giữa Tổ hòa giải với các tổ chức liên quan như Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các mô hình cộng đồng “Địa chỉ tin cậy”, “Ngôi nhà bình yên”… Khi tiếp nhận hòa giải vụ, việc liên quan phòng, chống bạo lực gia đình, hòa giải viên cần liên hệ với những tổ chức để mời người được đào tạo hoặc có kinh nghiệm về giới, bình đẳng giới, người làm công tác xã hội, tâm lý học, người có kinh nghiệm trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình tham gia hòa giải; giới thiệu cho nạn nhân bạo lực gia đình biết về “địa chỉ tin cậy” hoặc “ngôi nhà bình yên”… để trong trường hợp cần thiết nạn nhân bạo lực gia đình có thể tạm lánh trong một thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian đó, hòa giải viên tiếp xúc, làm việc với người có hành vi bạo lực gia đình.
Thứ tư, tăng cường quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở của chính quyền cấp xã. Trên thực tế, chính quyền xã, phường, đặc khu phải xử lý rất nhiều nhiệm vụ liên quan đến phát triển kinh kế; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện các chế độ, chính sách đối với người dân trên địa bàn, giải quyết các thủ tục hành chính... nên công tác hòa giải ở cơ sở ít dành thời gian quan tâm hơn. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng nếu làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở thì mọi mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư được giải quyết kịp thời sẽ giúp ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không để tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh thành “điểm nóng” về vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng. Do đó, chính quyền cấp xã cần quan tâm hơn nữa cho công tác hòa giải ở cơ sở, chú ý kiện toàn tổ hòa giải (chỉ đạo, hướng dẫn việc bầu hòa giải viên có uy tín, kinh nghiệm và cho thôi hòa giải viên làm việc kém hiệu quả, không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của hòa giải viên); bố trí kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho hòa giải viên; kịp thời khen thưởng những hòa giải viên tích cực, hòa giải thành công nhiều vụ, việc tranh chấp trên địa bàn; thường xuyên gặp gỡ tổ hòa giải để lắng nghe, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc và nắm bắt tình hình hoạt động của tổ hòa giải.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, người dân được sống trong môi trường văn minh, hiện đại, công bằng, hạnh phúc thì bạo lực gia đình cần phải xóa bỏ khỏi đời sống xã hội. Một trong những giải pháp để xóa bỏ bảo lực gia đình là thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Hòa giải ở cơ sở làm thay đổi nhận thức của cộng đồng trong quan hệ hôn nhân, gia đình, góp phần ngăn ngừa hành vi bạo lực gia đình và giúp mọi người có cách giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp một cách văn minh, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau./.
Nguyễn Thị Quế
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 
 

[1] Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 được ban hành tại Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ
[2] Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 ban hành tại Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 211/QĐ-TTg ngày 01/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ).
[3] Báo cáo số 29/BC-BVHTTDL ngày 28/01/2022 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về kết quả 14 năm thi hành Luật PCBLGD.
[4] Ví dụ: khi nghiên cứu Thực trạng giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở tại Hà Giang, có hòa giải viên nói “Tại chị già mồm quá nên ông ấy mới đánh”.
[5] Khảo sát người dân tại tỉnh Hà Giang cho thấy, có 40,5% người được khảo sát cho biết hòa giải viên còn khuyên nhủ một trong hai bên chịu nhẫn nhịn, chấp nhận điểm chưa tốt ở người còn lại; 21,6% người dân được khảo sát cho rằng hòa giải viên còn khuyên phụ nữ và trẻ em chấp nhận thua nam giới và người lớn
[6] Có thể xây dựng các bộ phim truyền hình phát sóng giờ vàng nhằm truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới.