Một số kết quả trợ giúp pháp lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 và đề xuất giai đoạn 2026 - 2035

Những năm qua, cùng với việc nhất quán thực hiện bình đẳng, đại đoàn kết dân tộc Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có chính sách trợ giúp pháp lý (TGPL). Trợ giúp pháp lý được xác định là chính sách ưu đãi dành cho người dân tộc thiểu số (DTTS) cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Luật TGPL năm 2017 quy định người được TGPL là “Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” (khoản 4 Điều 7). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025. Tại nội dung số 3, tiểu dự án 1 Dự án 10 Chương trình quy định nội dung “Tăng cường, nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động TGPL chất lượng cho vùng đồng bào DTTS&MN”.

1. Một số kết quả trợ giúp pháp lý trong Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN
Trong giai đoạn 2021–2025, nội dung TGPL đã được đưa vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN và được triển khai đồng bộ cùng các chính sách về an sinh xã hội. Điều đó chứng tỏ vị trí, vai trò của công tác TGPL đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bởi những kết quả tích cực trong thời gian qua, thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ trong việc đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới – nơi người dân còn hạn chế về điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật. Thời gian qua, trung ương và địa phương đã tập trung thực hiện nội dung TGPL trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 và đạt được một số kết quả như sau:
- Ở trung ương: Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đã tổ chức hàng chục lớp tập huấn điểm về kỹ năng thực hiện TGPL cho người dân tộc thiểu số, tập huấn điểm về tiếp cận TGPL đối với đồng bào vùng DTTS&MN nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ TGPL có chất lượng cho người dân khi có nhu cầu; bồi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức TGPL điểm cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở, người có liên quan tại vùng đồng bào DTTS&MN với hàng nghìn người tham dự. Đồng thời, Cục đã thực hiện khảo sát về hoạt động TGPL tại một số tỉnh, thành phố; xây dựng, phát sóng các chương trình (phóng sự, ký sự, diễn án) về vụ việc TGPL trên Đài Truyền hình; sản xuất và phát hành hàng trăm đợt phát thông điệp về TGPL trên Đài Tiếng nói Việt Nam; biên soạn, in ấn và phát hành tờ gấp pháp luật và tài liệu về TGPL.
Từ năm 2022 đến nay, Cục đã lồng ghép kiểm tra tình hình thực tiễn triển khai thực hiện Chương trình trong các đợt kiểm tra về công tác TGPL tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng thời tổ chức Hội nghị “Đánh giá, đề xuất giải pháp triển khai nội dung về trợ giúp pháp lý trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” tại Bình Định, Quảng Bình, Phú Yên, Lâm Đồng, An Giang với sự tham dự của Lãnh đạo Sở Tư pháp, Lãnh đạo Trung tâm TGPL nhà nước cùng các Trợ giúp viên pháp lý một số tỉnh, thành phố, các đồng chí đại diện Phòng Tư pháp các huyện, đại diện UBND xã, công chức Tư pháp hộ tịch và đại diện các tổ chức đoàn thể các xã, cán bộ thôn, bản, cán bộ hội đoàn thể và người có uy tín trong cộng đồng của các xã trên địa bàn tổ chức. Thông qua kiểm tra,  tổ chức các Hội nghị, Cục có điều kiện nắm bắt tình hình thực tiễn tổ chức thực hiện các văn bản, quy định về TGPL trong Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2025; kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc của địa phương, từ đó có giải pháp đôn đốc, chỉ đạo, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của địa phương.
- Ở địa phương: Các địa phương đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình. Đa số các tỉnh đã được cấp kinh phí triển khai thực hiện. Một số địa phương chưa được cấp kinh phí triển khai riêng đối với các hoạt động TGPL trong Chương trình[1], các hoạt động thực hiện trên cơ sở nguồn ngân sách chung được phân bổ cho hoạt động TGPL của Trung tâm. Một số Sở Tư pháp, Trung tâm TGPL nhà nước chủ động phối hợp với Phòng Tư pháp các huyện, thị xã tổ chức các cuộc truyền thông TGPL kết nối cộng đồng tại vùng đồng bào DTTS&MN trên toàn tỉnh[2]. Qua đó, giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm TGPL, quyền và nghĩa vụ của người được TGPL, người thực hiện TGPL, một số nội dung pháp luật thiết yếu đến người dân, số điện thoại, địa chỉ liên hệ cho đồng bào DTTS&MN. Một số địa phương biên soạn, in ấn cấp phát tờ rơi, tờ gấp về TGPL, tài liệu pháp luật phát miễn phí cho người dân nhằm giúp cho người dân, đặc biệt là những đối tượng đặc thù tại các vùng DTTS&MN thực hiện quyền được thụ hưởng chính sách TGPL miễn phí.[3] Bên cạnh đó, một số địa phương còn xây dựng tài liệu, tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, tập huấn điểm về kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác TGPL, tổ chức chuyên đề TGPL kết nối cộng đồng. Từ đó, nâng cao năng lực, kiến thức, hiểu biết điểm hoặc luân phiên theo địa bàn về TGPL cho những người có uy tín trong cộng đồng và đội ngũ cán bộ ở cơ sở (công an xã, công chức tư pháp hộ tịch,.....), tổ chức, đoàn thể của cấp xã để kịp thời giải thích cho người dân về quyền được TGPL, hướng dẫn người thuộc diện TGPL liên hệ với tổ chức thực hiện TGPL/người thực hiện TGPL tại địa phương[4].
Các hoạt động trợ giúp pháp lý đã được trung ương và địa phương triển khai đồng bộ, toàn diện, về cơ bản đã hoàn thành mục tiêu được giao tại nội dung số 03, tiểu Dự án 1 Dự án 10. Kết quả đầu ra của từng hoạt động trợ giúp pháp lý cơ bản giúp người dân, nhất là người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được TGPL tiếp cận và thụ hưởng TGPL khi có tranh chấp, vướng mắc pháp luật. Các hoạt động TGPL thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, công bằng trong tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý. Các hoạt động TGPL góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như bảo vệ tài sản, bảo vệ quyền lợi để người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tham gia lao động, sản xuất, cuộc sống cải thiện sinh kế, nâng cao hiểu biết kiến thức TGPL, tham gia phát triển kinh tế góp phần thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội, ổn định tình hình chính trị, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật. Già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở được bồi dưỡng, nâng cao năng lực, kiến thức TGPL để có khả năng cung cấp thông tin, giải thích về TGPL cho người dân và giới thiệu người dân thuộc diện được TGPL đến các Trung tâm TGPL nhà nước khi gặp vướng mắc pháp luật, làm cầu nối giữa người dân với các Trung tâm TGPL nhà nước. Người dân vùng đồng bào DTTS&MN được nâng cao nhận thức về TGPL. Người thực hiện TGPL và cán bộ các cơ quan liên quan được tăng cường kiến thức, kỹ năng thực hiện TGPL nhằm cung cấp dịch vụ TGPL tốt nhất cho người được TGPL.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện TGPL tại vùng đồng bào DTTS&MN còn có một số hạn chế như sau:
- Số lượng vụ việc TGPL, nhất là vụ việc TGPL tham gia tố tụng so với số lượng vụ việc tố tụng được Tòa án nhân dân các cấp xét xử còn chiếm tỷ lệ thấp, do đó có thể còn người dân tộc thiểu số và các đối tượng khác thuộc diện TGPL chưa tiếp cận và sử dụng dịch vụ TGPL. Một trong những nguyên nhân là do nhận thức, hiểu biết về TGPL của một số bộ phận người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Qua khảo sát, đánh giá cho thấy nhiều người dân tộc thiểu số  chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ pháp lý để giải quyết khi gặp những khó khăn, vướng mắc pháp luật gặp phải. Một số người dân ở miền núi vùng sâu, vùng xa còn sử dụng phong tục, tập quán hoặc họ thường tìm đến trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng… để chia sẻ, nhờ cậy bởi họ tin tưởng, hy vọng trưởng thôn, trưởng bản… sẽ giải quyết được hoặc cho ý kiến chính xác đối với những vấn đề của mình. Một số nơi khoảng cách địa lý xa, giao thông đi lại khó khăn mà không có phương tiện đi lại phù hợp cũng là một trở ngại khi người dân có ý định tìm đến TGPL.
- Chất lượng TGPL nói riêng và người thực hiện TGPL nói chung chưa được đồng đều, còn nhiều vụ việc TGPL phức tạp, điển hình để có thể giải quyết được cần phải có đội ngũ những người thực hiện TGPL có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn cao.
- Một số người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa không nghe, nói, đọc, viết được tiếng phổ thông, không biết chữ; trong khi đó, người làm công tác TGPL không biết hết hoặc không thông thạo hết các tiếng dân tộc thiểu số. Do đó, họ càng ngại tìm đến các cơ quan nhà nước, trong đó có Trung tâm TGPL nhà nước để đề nghị được giúp đỡ.
- Trong thời gian qua, ở Trung ương và địa phương đều có những nỗ lực tích cực trong công tác phối hợp về TGPL, nhất là giữa cơ quan, tổ chức TGPL với các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, việc thông báo, giải thích về quyền được TGPL theo quy định của pháp luật trong một số trường hợp chưa đạt hiệu quả. Một số cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý, giải quyết các vụ việc có liên quan đến công dân chưa chú trọng giải thích hoặc ít giới thiệu người thuộc diện TGPL đến Trung tâm TGPL nhà nước.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
2.1. Đề xuất
Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 với hai hợp phần: Hợp phần I về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và Hợp phần II về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trên cơ sở những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế đã nêu tại mục 1, xin tiếp tục đề xuất nội dung TGPL trong hợp phần II Chương trình MTQG hợp nhất giai đoạn tiếp theo, theo hướng tập trung nội dung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, xác định quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng thực hiện, hiệu quả cao hợp phần II về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trong Chương trình Mục tiêu quốc gia hợp nhất như sau:
- Về cơ sở chính trị, pháp lý: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”. Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó xác định nhiệm vụ, giải pháp: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý”. Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24 tháng 11 năm 2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới đã đề ra nhiệm vụ: “Kết nối, đẩy mạnh các hoạt động TGPL trong các Chương trình, chính sách về an sinh xã hội.
- Về cơ sở thực tiễn: Thời gian qua, TGPL đã giúp hàng nghìn người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi có vướng mắc, tranh chấp pháp luật, qua đó góp phần quyền bảo vệ con người, quyền công dân, quyền công bằng trong tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý, trong xét xử cũng như bình đẳng trong tranh tụng. Thông qua các hoạt động nâng cao hiểu biết và tiếp cận dịch vụ TGPL tại vùng DTTS&MN, số vụ việc tham gia tố tụng năm sau cao hơn năm trước rất đáng kể. Nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng do người thực hiện TGPL thực hiện thành công, hiệu quả giúp người dân tộc thiểu số, người yếu thế được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển đổi tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn hoặc thắng kiện trong các vụ việc dân sự giúp họ bảo vệ được tài sản, tái hoà nhập cộng đồng, ổn định đời sống.
- Nội dung đề xuất: “Tăng cường, nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Với các hoạt động triển khai như sau:
+ Một là, nâng cao nhận thức TGPL cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Dự kiến gồm thực hiện khảo sát, nói chuyện chuyên đề, cung cấp thông tin, truyền thông trực tiếp về TGPL… tại vùng đồng bào DTTS&MN; xây dựng các chương trình, tin bài trên đài truyền hình, truyền thanh, trang thông tin, ấn phẩm truyền thông, phim tài liệu, các chương trình, phóng sự về TGPL tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số phủ sóng vùng đồng bào DTTS&MN; xây dựng, phát hành các Infografic truyền thông về công tác trợ giúp pháp lý bằng tiếng phổ thông hoặc tiếng dân tộc cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN; đặt bảng thông tin, hộp tin về TGPL tại cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tố tụng, cơ sở giam giữ, công an xã thuộc vùng đồng bào DTTS&MN.
+ Hai là, nâng cao năng lực hỗ trợ, thực hiện TGPL có chất lượng cho người dân tộc thiểu số và người thuộc diện được TGPL tại vùng DTTS&MN. Dự kiến gồm tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức TGPL cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở, công chức Phòng Tư pháp, cán bộ cấp xã, người có liên quan tại vùng đồng bào DTTS&MN để có khả năng cung cấp thông tin, giải thích về TGPL cho người dân và giới thiệu người dân thuộc diện được TGPL đến các Trung tâm TGPL nhà nước khi gặp vướng mắc pháp luật, làm cầu nối giữa người dân với các Trung tâm TGPL nhà nước; tổ chức tập huấn chuyên đề chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức TGPL cho người dân tộc thiểu số, đối tượng yếu thế để nâng cao năng lực đối với người thực hiện TGPL, tổ chức và cá nhân có liên quan tại vùng đồng bào DTTS&MN; trao đổi kinh nghiệm về thực hiện các vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng và kinh nghiệm thực hiện phối hợp TGPL của các địa phương; tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin TGPL cho người thực hiện TGPL, người hỗ trợ trực TGPL, cơ quan tiến hành tố tụng, thư ký, trại tạm giam, người tiến hành tố tụng để thực hiện TGPL người dân tộc thiểu số và người thuộc diện được TGPL khác sinh sống tại vùng đồng bào DTTS&MN; bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước.
2.2. Một số kiến nghị
- Đề nghị Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục quan tâm tới công tác TGPL để mọi người dân, trong đó chú trọng người dân tộc thiểu số đều được tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý, tránh việc bỏ sót người được TGPL khi họ có nhu cầu.
- Đề nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, ngành, địa phương sớm hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi Hợp phần II về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN để triển khai Nghị quyết số 257/2025/QH15 về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026 – 2035.
- Đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục quan tâm, chỉ đạo nắm bắt, tổng hợp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện nội dung TGPL trong Chương trình để có đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền; nghiên cứu văn bản và tham mưu đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nội dung TGPL trong Chương trình; tổ chức triển khai hiệu quả, kịp thời nội dung TGPL ngay sau khi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026 – 2035 được ban hành./
Thanh Trịnh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Đắk Lắk, Quảng Nam, Gia Lai, Thanh Hóa, Hải Dương (cũ)
[2] Bắc Kạn, Hà Giang, Lạng Sơn, Bạc Liêu, Hà Giang, Gia Lai, Bình Định, Tuyên Quang, Yên Bái, Thừa Thiên Huế (cũ)
[3] Bắc Kạn, Hà Nội, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Lạng Sơn, Quảng Trị, Bạc Liêu, Gia Lai, Bình Định, Tuyên Quang, Yên Bái (cũ)
[4] Bắc Kạn, Hà Nội, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Lạng Sơn, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Bình Phước, Cà Mau (cũ)