Bàn về mô hình trợ giúp pháp lý

1. Đặt vấn đề
Trợ giúp pháp lý là một thiết chế bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người nghèo, người yếu thế và các nhóm đối tượng chính sách xã hội. Với tính chất là một dịch vụ công đặc thù, trợ giúp pháp lý thể hiện trách nhiệm xã hội và vai trò bảo đảm quyền con người của Nhà nước. Trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc lựa chọn và hoàn thiện mô hình tổ chức TGPL có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Mô hình trợ giúp pháp lý các nước trên thế giới
Trên thế giới hiện tồn tại ba mô hình TGPL cơ bản:
- Mô hình do Nhà nước thực hiện hoàn toàn;
- Mô hình giao hoàn toàn cho luật sư tư và tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ TGPL;
- Mô hình hỗn hợp (tổ chức thực hiện TGPL của Nhà nước và xã hội song song tồn tại và hoạt động).
Thực tiễn quốc tế cho thấy mô hình hỗn hợp là mô hình phổ biến nhất. Nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ áp dụng mô hình này. Đáng chú ý, Nhật Bản từng trao vai trò chủ đạo cho các tổ chức xã hội nhưng sau đó phải điều chỉnh do bộc lộ nhiều hạn chế, chuyển sang mô hình kết hợp nhằm tăng tính chủ động của Nhà nước. Đây là mô hình phổ biến nhất hiện nay trên thế giới và cũng là mô hình được đánh giá hiệu quả nhất, phát huy được ưu điểm và khắc phục được những bất cập, hạn chế của 2 mô hình còn lại (mô hình do Nhà nước thực hiện hoàn toàn và mô hình do luật sư thực hiện hoàn toàn), cụ thể như sau:
- Mô hình này cho phép sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội do kết hợp và phát huy được các lợi thế của người thực hiện TGPL của Nhà nước và các luật sư tư, các tổ chức xã hội. Do đó, thực tiễn cho thấy, mô hình này đã mang lại hiệu quả cao trong công tác TGPL.
- Do có đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước nên Nhà nước bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL của người dân ở những địa bàn khác nhau (ngay cả vùng sâu, vùng xa, nơi không có hoặc có rất ít luật sư tư), không bị quá lệ thuộc vào đội ngũ luật sư tư; đồng thời, Nhà nước có thể chủ động điều phối các nguồn lực (kể cả nhân lực và kinh phí) ở mọi thời điểm, bảo đảm cho công tác TGPL phát triển ổn định và hiệu quả, thông qua đó Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm công tác TGPL của Nhà nước;
- Nhà nước có thể huy động được các nguồn lực khác nhau trong xã hội tham gia công tác TGPL. Căn cứ vào nhu cầu TGPL của người dân và nguồn kinh phí dành cho công tác TGPL, Nhà nước có thể lựa chọn và ký hợp đồng TGPL với các luật sư tư, tổ chức tham gia TGPL và điều phối vụ việc TGPL trong những trường hợp cần thiết;
- Đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước hoạt động ổn định do họ được tuyển dụng, được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo chính sách phát triển của Nhà nước và được trả lương theo quy định chung của Nhà nước;
- Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa người thực hiện TGPL của Nhà nước và luật sư tư nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí vụ việc. Vì vậy, người được TGPL có cơ hội được hưởng dịch vụ TGPL tốt hơn.
Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn so sánh, mô hình hỗn hợp được đánh giá là tối ưu khi dung hòa được vai trò chủ đạo của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực xã hội.
Một số ít quốc gia chỉ duy trì tổ chức TGPL của Nhà nước, như Philippines với hệ thống Văn phòng Luật sư công thực hiện TGPL trong các lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính; Argentina và Singapore với Văn phòng Luật sư công chủ yếu đảm nhận lĩnh vực hình sự. Ngược lại, rất ít nước như Hungary hay Indonesia giao hoàn toàn cho các tổ chức xã hội thực hiện. Tuy nhiên, tại những quốc gia này, TGPL thường thiếu sự điều phối thống nhất và phụ thuộc lớn vào nguồn lực xã hội, dẫn đến hạn chế về tính bền vững và khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân.
3. Lịch sử hình thành trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Nhằm thể chế hoá chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VIII và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ đạo định hướng triển khai công tác TGPL theo hướng “Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí”), với kết quả thực hiện thí điểm hoạt động TGPL tại một số tỉnh (Cần Thơ, Hà Tây cũ), ngày 06/9/1997 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách.
Đây là căn cứ pháp lý quan trọng cho sự hình thành của hệ thống tổ chức TGPL. Triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, các Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được củng cố và kiện toàn. Như vậy, những ngày đầu, hoạt động TGPL ở Việt Nam do Nhà nước đảm nhiệm. Kết quả công tác TGPL trong khoảng thời gian này đã góp phần quan trọng trong việc giải tỏa các vướng mắc pháp luật trong nhân dân, nâng cao hiểu biết pháp luật.
3. Hệ thống trợ giúp pháp lý hiện nay
Việt Nam hiện áp dụng mô hình hỗn hợp, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo thông qua hệ thống Trung tâm TGPL nhà nước, đồng thời thiết lập cơ chế thu hút các nguồn lực xã hội tham gia thông qua cơ chế ký hợp đồng thực hiện TGPL, đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
Hệ thống tổ chức TGPL bao gồm Trung tâm TGPL và các tổ chức tham gia TGPL. Trước khi sáp nhập tỉnh, cả nước có 63 Trung tâm TGPL, 97 Chi nhánh. Hiện nay, toàn quốc có 42 Trung tâm và 70 Chi nhánh. Các địa phương đã kiện toàn tổ chức, bố trí nhân sự để bảo đảm tính ổn định và hiệu quả. Tính đến 31/12/2025, cả nước có hơn 1.600 người thực hiện TGPL gồm trợ giúp viên pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên TGPL.
Về cơ quan quản lý nhà nước, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý TGPL trong toàn quốc. Từ ngày 01/3/2025, Cục Trợ giúp pháp lý hợp nhất với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật thành Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và TGPL. Ở địa phương, UBND cấp tỉnh quản lý TGPL, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn đầu mối giúp tỉnh thực hiện thực hiện chức năng này.
4. Đánh giá mô hình hỗn hợp ở Việt Nam
TGPL có tính đặc thù là người thụ hưởng dịch vụ chủ yếu là người nghèo, đối tượng yếu thế, người thuộc diện chính sách xã hội nên được miễn phí để tạo điều kiện cho họ tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý. Vì vậy, cũng như nhiều nước trên thế giới TGPL là trách nhiệm của Nhà nước[1].
Qua gần 30 năm phát triển, mô hình hỗn hợp tiếp tục chứng minh tính phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam. Do trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước nên Nhà nước cần có tổ chức thực hiện TGPL do Nhà nước thành lập, bảo đảm nguồn lực và kinh phí để tạo sự chủ động, kịp thời đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân, tránh phụ thuộc vào các tổ chức xã hội. Trợ giúp viên pháp lý là lực lượng nòng cốt, được đào tạo chính quy, trình độ đào tạo tương đồng luật sư và góp phần làm nên kết quả nổi bật của công tác TGPL thời gian qua (ví dụ: trong năm 2024, Trợ giúp viên pháp lý Lã Thành Công (Phú Thọ) thực hiện 164 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Bùi Đức Dũng (Phú Thọ) thực hiện 164 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Nguyễn Thị Hải Yến (Hà Nam cũ) thực hiện 125 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Nguyễn Thị Liên (Hải Dương cũ) thực hiện 123 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Phạm Quang Long (Đắk Nông cũ) thực hiện 117 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Nguyễn Thị Quỳnh Trang (Nghệ An) thực hiện 114 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Hoàng Ngọc Tuấn (Đắk Nông cũ) thực hiện 113 vụ tham gia tố tụng, TGVPL Phạm Thị Nhàn    (Hà Nam cũ) thực hiện 113 vụ tham gia tố tụng.
Trong những năm qua, vụ việc TGPL tham gia tố tụng tăng nhanh, minh chứng cho việc hệ thống tổ chức TGPL đã lớn mạnh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực Nhà nước dành cho công tác TGPL. Ví dụ, năm 2018, vụ việc tham gia tố tụng là: 11.860, năm 2024, vụ việc tham gia tố tụng là: 31.718. Như vậy, sau 6 năm vụ việc tham gia tố tụng tăng 267%.
Theo thống kê, từ 01/01/2018 đến hết 31/12/2024 có 43.938 vụ việc thành công. Trong đó, trợ giúp viên pháp lý thực hiện 37.996 vụ việc, chiếm 86% tổng số vụ việc thành công trong giai đoạn này.
Số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội (1.882 luật sư), thành phố Hồ Chí Minh (4.106 luật sư) những đối với những địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa (như Điện Biên, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La,…) và những tỉnh có ít luật sư (Đoàn luật sư Lai Châu: 7 luật sư, Sơn La: 9, Cao Bằng: 19), nhiều luật sư ghi danh nhưng không hành nghề hoặc cao tuổi (ví dụ: tỉnh Lai Châu) thì rất khó thu hút các tổ chức xã hội tham gia TGPL (ví dụ Quảng Trị, Hà Tĩnh, Phú Thọ…) . Vì vậy, rất cần các Trung tâm TGPL của Nhà nước để thực hiện chức năng xã hội là TGPL miễn phí cho người dân thuộc nhóm yếu thế, bảo đảm cung ứng dịch vụ kịp thời. Việc thay đổi mô hình TGPL cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá rất kỹ lưỡng cả về kinh nghiệm quốc tế và điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước để bảo đảm tính khả thi, thực tiễn (các tổ chức dịch vụ tham gia mang tính tự nguyện, thỏa thuận không bắt buộc được).
5. Kết luận
Mô hình TGPL hỗn hợp ở Việt Nam là sự lựa chọn phù hợp cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Mô hình này vừa bảo đảm vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, vừa huy động được nguồn lực xã hội tham gia, qua đó nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của hệ thống TGPL. Trong điều kiện hiện nay, việc tiếp tục củng cố và hoàn thiện mô hình hỗn hợp là hướng đi hợp lý.
Phan Thị Thu Hà
Trưởng phòng Quản lý Trợ giúp pháp lý, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

[1] Khoản 1 Điều 4 Luật TGPL năm 2017