Trợ giúp pháp lý: Bước chuyển mình hướng tới tư pháp hiện đại

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền tiếp cận công lý của người dân luôn là yêu cầu xuyên suốt, thể hiện sâu sắc bản chất dân chủ, nhân văn của chế độ ta. Một nền tư pháp thực sự vì nhân dân không chỉ được đánh giá ở tính nghiêm minh của pháp luật hay hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền mà cốt lõi còn ở khả năng mọi người dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội, có thể tiếp cận công lý một cách bình đẳng, thực chất và kịp thời. Đây chính là tiêu chí căn bản để đánh giá sự tiến bộ, văn minh và tính ưu việt của nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại trong Nhà nước pháp quyền.

Cụ thể hóa định hướng chiến lược đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII[1] đã đặt ra yêu cầu: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”. Trong tiến trình cải cách tư pháp mạnh mẽ đó, trợ giúp pháp lý (TGPL) không đơn thuần là một giải pháp bảo đảm an sinh xã hội hay công cụ hỗ trợ thuần túy, mà là cấu phần thiết yếu của chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển bền vững đất nước trong thời gian tới. Bởi lẽ, một nền tư pháp không thể gọi là công bằng nếu người nghèo, người “yếu thế” không bình đẳng trong tiếp cận công lý chỉ vì rào cản tài chính hoặc hoàn cảnh nhân thân; một nền tư pháp cũng không thể xem là hiện đại, chuyên nghiệp nếu quyền tiếp cận công lý của người dân chưa được bảo đảm đồng bộ, kịp thời. Chính vì vậy, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu "xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý"; nhấn mạnh nhiệm vụ "nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp". Tiếp đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, ... để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý[2]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, các thiết chế trong lĩnh vực TGPL…, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.[3]
Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, việc nhận diện đúng nội hàm và triển khai quyết liệt các giải pháp đột phá - từ kiện toàn tổ chức bộ máy, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, hiện đại hóa nghiệp vụ, tăng cường phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp với các cơ quan tố tụng, cho đến mở rộng đối tượng thụ hưởng - chính là chìa khóa để công tác TGPL đóng góp thực chất vào sứ mệnh phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh.
1. Trợ giúp pháp lý góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp
 Trong cấu trúc tổng thể của chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, TGPL là nhân tố tác động trực tiếp, góp phần quan trọng vào việc nâng tầm nền tư pháp chuyên nghiệp. Trước hết, thể chế TGPL đã được quan tâm xây dựng: từ Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách, đến Luật TGPL năm 2006 – nền tảng pháp lý đầu tiên; tiếp đó là Luật TGPL năm 2017 và mới đây là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL[4] đều được Quốc hội thông qua với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành, tạo thành hệ thống VBQPPL gồm (01 Luật, 01 Nghị định đến 13 Thông tư và 06 Thông tư liên tịch đang có hiệu lực). Các văn bản này điều chỉnh toàn diện các nội dung từ diện người được trợ giúp pháp lý, nguyên tắc hoạt động, tổ chức bộ máy, tiêu chuẩn người thực hiện trợ giúp pháp lý, cơ chế phối hợp liên ngành, chế độ chính sách đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, vững cắc cho việc phát triển TGPL.
Trong tiến trình cải cách tư pháp đó, TGPL đóng vai trò là "màng lọc", là thước đo chất lượng tranh tụng tại tòa. Một nền tư pháp chuyên nghiệp trước hết phải được xây dựng trên nền tảng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp có trình độ chuyên môn tốt, được đào tạo bài bản, có kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ vững vàng. Trong lĩnh vực TGPL, yêu cầu chuyên nghiệp hóa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện pháp luật. Luật TGPL năm 2006 đặt nền móng cho việc lần đầu tiên cho việc thành lập Trung tâm TGPL Nhà nước tại các tỉnh, thành phố và xác lập chức danh trợ giúp viên pháp lý là một nghề nghiệp có tiêu chuẩn. Sau 10 năm thi hành Luật TGPL 2006, cả nước có 63 Trung tâm TGPL Nhà nước ở 63 tỉnh, thành phố; đội ngũ trợ giúp viên pháp lý được kiện toàn dần và đạt 595 Trợ giúp viên pháp lý vào năm 2016[5].
Kể từ khi thực hiện Luật TGPL 2017 đến hết tháng 6/2025, cả nước có 63 Trung tâm TGPL nhà nước và 97 Chi nhánh; sau khi sáp nhập tỉnh, thành phố, hệ thống tổ chức thực hiện TGPL được cơ cấu còn 53 Trung tâm và 70 Chi nhánh, cùng với 14 tổ chức hành nghề luật sư và 6 tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng, 147 tổ chức hành nghề luật sư và 30 tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia TGPL. Đội ngũ người thực hiện TGPL nói chung, trong đó có đội ngũ trợ giúp viên pháp lý nói riêng, đã được củng cố, kiện toàn không chỉ về số lượng mà đặc biệt là nâng cao về chất lượng. Theo quy định của Luật TGPL 2017, tiêu chuẩn của trợ giúp viên pháp lý đã được quy định tương đương như luật sư: phải có trình độ cử nhân luật trở lên, được đào tạo nghề luật sư hoặc miễn đào tạo nghề luật sư, và phải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL. Yêu cầu này bảo đảm trợ giúp viên pháp lý không chỉ bảo đảm tiêu chuẩn bằng cấp mà cần có bản lĩnh, kỹ năng nghề nghiệp, đủ khả năng tham gia tố tụng và tranh tụng độc lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL theo đúng quy định của pháp luật.
Cùng với yêu cầu đầu vào, pháp luật cũng quy định hệ thống chức danh nghề nghiệp trợ giúp viên pháp lý thành các hạng bậc chuyên môn với các tiêu chuẩn từ thấp đến cao: Trợ giúp viên pháp lý (hạng III), Trợ giúp viên pháp lý chính (hạng II) và Trợ giúp viên pháp lý cao cấp (hạng I), tương ứng với yêu cầu ngày càng cao về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và mức độ đóng góp nghề nghiệp. Quy định này không chỉ tạo cơ chế, lộ trình thăng tiến mà còn là công cụ kiểm soát chất lượng từ nội tại nghề nghiệp, tạo điều kiện cho trợ giúp viên pháp lý có cơ hội phấn đấu, nâng cao năng lực và rèn luyện bản lĩnh, kỹ năng nghề nghiệp thực sự. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có 1.634 người thực hiện trợ giúp pháp lý, trong đó có 740 trợ giúp viên pháp lý[6] (với hơn 100 trợ giúp viên pháp lý hạng I và hạng II), 894 người tham gia thực hiện TGPL. Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/5/2025, đội ngũ TGPL đã thực hiện 248.598 vụ việc TGPL kết thúc; trong đó chủ yếu các vụ việc do trợ giúp viên pháp lý đảm nhận (khoảng 80% tổng số vụ việc).
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL (Luật TGPL số 05/2026/QH15) đã siết chặt kỷ luật nghề nghiệp của người thực hiện TGPL bằng những quy định cụ thể như: quy định cụ thể hơn các trường hợp không được cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, thẻ cộng tác viên TGPL. Chẳng hạn như: không cấp thẻ cho những người đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích[7]; thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp trợ giúp viên pháp lý không còn đủ tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý hoặc không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 12 tháng liên tục trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan hoặc bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật TGPL..;[8] cộng tác viên TGPL không còn đủ tiêu chuẩn hoặc không thực hiện vụ việc TGPL trong thời gian 02 năm liên tục[9]
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL cũng đã mở rộng đáng kể nguồn nhân lực thực hiện TGPL bằng cách không giới hạn địa bàn ký hợp đồng với cộng tác viên TGPL, mở rộng nhóm người có thể trở thành cộng tác viên bao gồm viên chức làm công tác pháp luật, những người có kinh nghiệm pháp lý đang công tác tại cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức thành viên; đồng thời cho phép cộng tác viên được tham gia đại diện ngoài tố tụng – thay vì chỉ được tư vấn pháp luật như trước đây. Những điều chỉnh này giúp huy động hiệu quả nguồn nhân lực pháp lý dồi dào trong xã hội, từng bước xây dựng một hệ thống TGPL chuyên nghiệp có chiều sâu và độ phủ rộng.
2. Những dấu mốc quan trọng của trợ giúp pháp lý trong trong kỷ nguyên số góp phần xây dựng nền tư pháp hiện đại
Tính hiện đại của một nền tư pháp không chỉ được đo bằng cơ sở hạ tầng hay số lượng trang thiết bị, mà trước hết được đo bằng khả năng thích ứng với những thay đổi của thực tiễn xã hội và công nghệ, đồng thời bảo đảm người dân được tiếp cận công lý một cách thuận tiện nhất, không bị cản trở bởi khoảng cách địa lý hay thủ tục hành chính phức tạp. Trong lĩnh vực TGPL, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ “…;hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống trợ giúp pháp lý;…”, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định yêu cầu " Ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý…”.
Bước tiến đáng kể nhất về tính hiện đại trong những năm gần đây là việc Luật TGPL năm 2017 quy định Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp; số hóa và cập nhật hồ sơ vụ việc TGPL vào hệ thống quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý và lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về TGPL.[10]
Tiếp đó, việc tổ chức phiên tòa trực tuyến đã được triển khai thực hiện quyết liệt theo Nghị quyết 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BQP-BTP.[11] Tính đến ngày 30/9/2025, đã có nhiều địa phương thiết lập điểm cầu thành phần tại Trung tâm TGPL[12]. Một số Trung tâm TGPL đã tham gia nhiều phiên tòa trực tuyến, ví dụ như: Bắc Ninh tham gia 104 vụ việc, Cà Mau 70 vụ, Hà Nội 56 vụ, Hải Phòng 40 vụ, Nghệ An 39 vụ, Lai Châu 28 vụ, Tuyên Quang 27 vụ… Việc tham gia phiên tòa trực tuyến không chỉ tiết kiệm chi phí đi lại cho trợ giúp viên pháp lý và người được TGPL mà còn mở ra khả năng tiếp cận tư pháp cho những người ở vùng sâu, vùng xa mà trước đây không thể có mặt tại phiên tòa do khoảng cách địa lý hoặc do điều kiện khách quan khác như dịch bệnh, bão lũ...
Ngoài ra, ngay từ khi thực hiện Luật TGPL 2017, Bộ Tư pháp đã nhiên cứu, xây dựng và triển khai Phần mềm TGPL nhằm thiết lập một hệ thống quản lý dữ liệu tập trung, thống nhất, giúp đồng bộ hóa thông tin và quy trình nghiệp vụ trên toàn quốc. Trên cơ sở đó, nâng cấp Phần mềm thành Hệ thống quản lý TGPL và chính thức vận hành từ tháng 01/2019. Hệ thống đã cơ bản đáp ứng nhu cầu quản lý, lưu trữ hồ sơ điện tử, trích xuất các số liệu thống kê, báo cáo một cách nhanh chóng. Từ đó tới nay, Hệ thống quản lý TGPL đã góp phần hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước và thống kê số liệu vụ việc TGPL, số lượng người được TGPL, số lượng người và tổ chức thực hiện TGPL... Bên cạnh đó, lĩnh vực TGPL có 12 thủ tục hành chính đã được công bố công khai trên Cổng dịch vụ công quốc gia.
Luật TGPL số 05/2026/QH15 đánh dấu bước chuyển có tính lịch sử khi lần đầu tiên quy định toàn diện, có hệ thống về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong lĩnh vực TGPL ngay trong văn bản luật. Theo đó, Bộ Tư pháp được giao vai trò đầu mối xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu TGPL; đồng thời thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu TGPL với Cổng Pháp luật quốc gia[13]. Đây là nền tảng để hình thành "hệ sinh thái số" trong lĩnh vực TGPL – nơi người dân có thể tìm kiếm thông tin, đăng ký yêu cầu TGPL và theo dõi quá trình giải quyết vụ việc trực tuyến, không bị giới hạn bởi địa giới hành chính hay giờ giấc làm việc.
Tính hiện đại còn được thể hiện ở việc đơn giản hóa thủ tục hành chính – một yêu cầu thiết thực đối với người dân vốn đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống. Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, Luật TGPL số 05/2026/QH15 đã chuyển nhiều quy định cứng về hồ sơ, trình tự, thủ tục – vốn được quy định chi tiết trong Luật TGPL năm 2017 – sang giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết. Cụ thể, hồ sơ bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, quy trình miễn nhiệm và thu hồi thẻ, thời hạn cử người thực hiện TGPL trong các vụ việc tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng, quy trình xác minh vụ việc, quy trình giải quyết kiến nghị và khiếu nại tố cáo – tất cả đều được điều chỉnh theo hướng tinh gọn và linh hoạt hơn. Sự linh hoạt này không làm giảm tính bảo đảm pháp lý mà ngược lại, cho phép điều chỉnh kịp thời theo thực tiễn mà không cần sửa luật, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đa dạng của các địa phương.
3. Trợ giúp pháp lý góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền tư pháp công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân
“Công bằng” trong tư pháp có nghĩa là mọi người, bất kể giàu nghèo, độ tuổi, địa vị xã hội hay hoàn cảnh khác nhau, đều có cơ hội được tiếp cận pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau. Nền tư pháp nghiêm minh bảo đảm các cơ chế, thiết chế tư pháp hoạt động đúng pháp luật; việc xét xử đúng người, đúng tội. TGPL đóng vai trò kép trong việc thực hiện cả hai tiêu chí này với mục tiêu cao cả hơn nữa là “phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”.
Trước hết, trợ giúp pháp lý góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý – đây là yếu tố căn bản nhất của một nền tư pháp liêm chính. Khác với nhiều nước trên thế giới, ở nước ta trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý (gồm tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng) miễn phí cho người được TGPL  góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật[14]. Theo quy định của Luật TGPL năm 2017, người nghèo, người có công với cách mạng, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; nhóm người có khó khăn về tài chính như người khuyết tật, nạn nhân bị bạo lực gia đình, người bị mua bán và một số đối tượng yếu thế khác được hưởng TGPL miễn phí của nhà nước.
Trên cơ sở kế thừa và bổ sung các nhóm người được trợ giúp pháp lý, Luật TGPL số 05/2026/QH15 đã mở rộng đáng kể và thực chất diện người được trợ giúp pháp lý. Luật cơ cấu gồm 14 nhóm người được trợ giúp pháp lý. Trong đó, Luật mở rộng thêm một số nhóm không phụ thuộc điều kiện tài chính (người khuyết tật, thân nhân liệt sĩ, người nhiễm chất độc da cam) và bổ sung các nhóm đối tượng mới phát sinh từ yêu cầu thực tiễn và cam kết quốc tế của Việt Nam (người dân tộc thiểu số rất ít người, người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội hoặc bị hại, người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai hoặc hỏa hoạn, cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên). Việc sửa đổi này thể hiện rõ định hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội.[15]
Điều đó có nghĩa là trong tố tụng, những người thuộc diện được TGPL nói trên được trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL đồng hành ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, được tư vấn quyền lợi ngay từ ban đầu, được hỗ trợ soạn thảo đơn từ, thực hiện các thủ tục tố tụng cần thiết, được trực tiếp bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại phiên tòa hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng khác.  Sự hiện diện của người thực hiện TGPL không chỉ giúp những người “yếu thế” yên tâm về tâm lý, cân bằng vị thế trong tố tụng mà còn góp phần bảo đảm tính khách quan, minh bạch và đúng đắn của quá trình xét xử – từ đó nâng cao chất lượng và uy tín của nền tư pháp công bằng, nghiêm minh và liêm chính. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc, hạn chế tình trạng oan sai hoặc bất bình đẳng trong tiếp cận công lý, củng cố uy tín và tính liêm chính của nền tư pháp phụng sự Tổ quốc, phụng sư nhân dân. 
TGPL còn góp phần bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh trong tố tụng tư pháp thông qua thiết chế phối hợp TGPL trong tố tụng quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC; trực TGPL tại Tòa án nhân dân và trực TGPL trong điều tra hình sự theo các chương trình phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Tòa án nhân dân tối cao[16] và với Bộ Công an.[17] Đặc biệt, Luật TGPL số 05/2026/QH15 đã luật hóa nội dung này bằng việc quy định: cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực TGPL tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; đồng thời, 06 Bộ trưởng và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bảo đảm tính chuyên nghiệp, công bằng và nghiêm minh trong hoạt động tố tụng: người thuộc diện TGPL được tiếp cận dịch vụ ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng, không bị bỏ sót; đồng thời cơ quan tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng một cách đúng quy định, bảo đảm người bị buộc tội hoặc bị hại có đại diện pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ.
Để nâng cao tính liêm chính trong phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, pháp luật TGPL quy định rất rõ nguyên tắc hoạt động TGPL[18]; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL[19]; quy tắc nghề nghiệp TGPL[20]; quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL và người được TGPL; điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm, cấp thẻ thẻ trợ giúp viên pháp lý, tiêu chuẩn của cộng tác viên TGPL… Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về công tác thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL với các tiêu chí cụ thể và xếp loại chất lượng vụ việc TGPL[21]; đánh giá hiệu quả vụ việc TGPL tham gia tố tụng để xác định vụ việc thành công...
Thực tiễn gần 20 năm phát triển TGPL đã chứng minh chiều sâu đóng góp và hiệu quả của TGPL đối với nền tư pháp nước nhà. Báo cáo công tác TGPL của các địa phương cho thấy, từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, các tổ chức thực hiện TGPL đã thực hiện kết thúc 262.147 vụ việc, bao gồm 163.820 vụ tham gia tố tụng, 96.066 vụ tư vấn pháp luật và 2.261 vụ đại diện ngoài tố tụng. Trong số đó, các vụ việc tố tụng chiếm hơn 60%. Tỷ lệ vụ việc tham gia tố tụng tăng liên tục qua các năm (23,5% tổng số vụ việc năm 2018, 83% năm 2024 và 85% trong sáu tháng đầu năm 2025). Trong số đó, có hơn 30% tổng số vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá là thành công. Đặc biệt, trong số các vụ việc thành công, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý thực hiện tới 86% tổng số vụ việc thành công – điều đó khẳng định vai trò nòng cốt, không thể thay thế của lực lượng chuyên nghiệp này trong hệ thống trợ TGPL của nhà nước. Những con số này cũng thể hiện tính nghiêm minh của nền tư pháp XHCN: nhiều vụ án hình sự có bị cáo là người thuộc diện TGPL đã được bảo về quyền lợi hợp pháp một cách kịp thời, đúng pháp luật, góp phần hạn chế oan sai. Nhiều vụ tranh chấp dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình của người nghèo và người yếu thế được giải quyết thấu đáo nhờ có sự tư vấn, hỗ trợ trực tiếp của người thực hiện TGPL.
Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị yêu cầu “Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.” Để nâng cao năng lực của người thực hiện TGPL bên cạnh việc ưu tiên bố trí đủ về số lượng biên chế cho các Trung tâm TGPL, đặc biệt là số trợ giúp viên pháp lý, Ngành tư pháp còn nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện TGPL. Hàng năm, Bộ Tư pháp và các địa phương tổ chức từ 10 đến 20 lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo chuyên sâu về TGPL tại Trung ương, với 40 đến 60 học viên mỗi lớp; trung bình mỗi tỉnh, thành phố tổ chức 5 lớp tập huấn mỗi năm. Công tác kiểm tra được thực hiện đúng quy định nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm trong hoạt động TGPL. Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng ở Trung ương thường xuyên theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra hoạt động phối hợp tại địa phương. Đây là hệ thống giám sát đa tầng, bảo đảm hoạt động TGPL diễn ra đúng pháp luật và thực sự vì lợi ích của người được TGPL.
4. Kết luận
   Mục tiêu chiến lược về xây dựng nền tư pháp "chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân" theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW sẽ không thể hoàn thành nếu thiếu một thiết chế TGPL vững mạnh nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân – đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội. Trải qua hành trình gần ba thập kỷ phát triển, TGPL Việt Nam đã trở thành một trụ cột thiết yếu, tác động trực tiếp và toàn diện vào 6 giá trị cốt lõi của nền tư pháp nước nhà. Tính chuyên nghiệp thể hiện rõ thông qua việc chuẩn hóa đội ngũ trợ giúp viên pháp lý với các tiêu chuẩn tương đương luật sư, cấu trúc chức danh nghề nghiệp phân hạng khoa học (hạng I, II, III), đi kèm với việc siết chặt kỷ luật nghề nghiệp và mở rộng nguồn lực cộng tác viên chất lượng cao. Tính hiện đại được minh chứng bằng bước chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số, thông qua việc vận hành Hệ thống quản lý TGPL đồng bộ, triển khai hiệu quả các phiên tòa trực tuyến, xóa nhòa khoảng cách địa lý và điều kiện thể chất; luật hóa toàn diện "hệ sinh thái số" trong quản trị nghiệp vụ. Tính công bằng và nghiêm minh được bảo đảm thực chất khi Luật TGPL và đặc biệt là Luật TGPL số 05/2026/QH15 mở rộng diện người được thụ hưởng; đồng thời luật hóa cơ chế trực TGPL, phối hợp liên ngành với cơ quan Công an, Tòa án và Viện kiểm sát, tạo "màng lọc" bảo đảm tranh tụng dân chủ, công bằng, đúng pháp luật, giảm thiểu tối đa án oan sai. Tính liêm chính và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân được đề cao và kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống quy định đồng bộ bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ thực hiện TGPL; số lượng các vụ việc TGPL tham gia tố tụng được đánh giá đạt chất lượng tốt, khá và vụ việc thành công ngày càng nhiều; xây dựng các công cụ và bộ tiêu chí bảo đảm chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL một cách minh bạch; lấy người được TGPL làm trung tâm để hiện thực hóa cam kết chính trị nhân văn của Đảng và Nhà nước: "Không để ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình tiếp cận công lý".
  Việc Quốc hội thông qua Luật Trợ giúp pháp lý với tỷ lệ đồng thuận tuyệt đối chính là dấu mốc lịch sử, tạo dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho chặng đường phát triển mới của công tác TGPL. Trong cấu trúc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bản chất của công lý không chỉ nằm ở sự nghiêm minh của chế tài, mà quan trọng hơn là khả năng thụ hưởng quyền pháp lý của những người yếu thế nhất trong xã hội. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước; với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị; cùng với nền tảng pháp lý ngày càng hoàn thiện, hệ thống trợ giúp pháp lý Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và nhân văn. Bằng việc không ngừng nâng cao chất lượng TGPL, thiết chế TGPL ngày càng khẳng định rõ vai trò là một trụ cột quan trọng của nền tư pháp phục vụ Nhân dân, góp phần thiết thực vào mục tiêu xây dựng thành công nền tư pháp Việt Nam “chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” mà Đảng, Nhà nước ta đã xác định trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[2] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[3] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng 
[4] Luật TGPL số 05/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027
[5] Báo cáo Tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý ngày 30 tháng 6 năm 2016.
[6] Tờ trình số 104/TTr-CP ngày 21/3/2026 của Chính phủ gửi Quốc Hội.
[7] Khoản 5 và khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL
[8] Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL
[9] Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL
[10] Điều 17 và 39 Luật TGPL năm 2017
[11] Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến
[12] Đã có 17 địa phương thiết lập điểm cầu thành phần tại Trung tâm TGPL; nhiều địa phương khác sử dụng chung trang thiết bị tại Sở Tư pháp hoặc đang trong quá trình lắp đặt
[13] Khoản 15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL 2017
[14] Điều 2 Luật TGPL năm 2017.
[15] Khoản 2 Điều 7 15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL 2017
[16] Chương trình phối hợp số 1603/CTPH-BTP-TANDTC ngày 19/5/2022 về người thực hiện TGPL trực TGPL tại Tòa án nhân dân
[17] Chương trình phối hợp số 5789/CTPH-BTP-BCA ngày 27/11/2023 về trực TGPL trong điều tra hình sự
[18] Điều 3 Luật TGPL 2017
[19]  Điều 6 Luật TGPL 2017
[20] Thông tư số 03/2020/TT-BTP ngày 28/4/2020 của Bộ Tư pháp
[21] Thông tư số 12/2018/TT-BTP và Thông tư số 03/2021/TT-BTP của Bộ Tư pháp