Chính phủ ban hành quy định về phát triển kỹ năng nghề

Trong bối cảnh thị trường lao động chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng hiện đại, yêu cầu về kỹ năng nghề ngày càng trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của người lao động. Ngày 07/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 138/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về phát triển kỹ năng nghề. Trong đó, nổi bật là các quy định về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và hệ thống chính sách hỗ trợ thiết thực cho người lao động trong bồi dưỡng, tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Những nội dung này không chỉ góp phần chuẩn hóa kỹ năng nghề mà còn mở ra nhiều cơ hội nâng cao trình độ, cải thiện việc làm và thu nhập.

Theo quy định tại Điều 24 Luật Việc làm năm 2025, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để công nhận một người lao động có đủ khả năng thực hiện công việc đạt yêu cầu ở một bậc trình độ kỹ năng của một nghề trên cơ sở kết quả đánh giá kỹ năng nghề của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Đây có thể xem là “thước đo chuẩn hóa” về năng lực nghề nghiệp, giúp xác định rõ trình độ kỹ năng của người lao động theo hệ thống bậc kỹ năng nghề quốc gia.
 Nội dung đánh giá cũng được thiết kế toàn diện, bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, tuân thủ quy trình an toàn, vệ sinh lao động và các nội dung đặc thù theo từng nghề. Điều này giúp bảo đảm người được cấp chứng chỉ không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng thực hành và đáp ứng yêu cầu thực tế của công việc.
Đáng chú ý, Luật Việc làm năm 2025 cũng mở ra khả năng công nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Trong trường hợp có thỏa thuận quốc tế, chứng chỉ kỹ năng nghề của nước ngoài có thể được công nhận tại Việt Nam và ngược lại. Đây là bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao tính hội nhập của thị trường lao động Việt Nam, tạo điều kiện để người lao động có thể tham gia làm việc trong môi trường quốc tế.
Quyền lợi của người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
 Theo quy định tại Đều 25 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người lao động sau khi được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia sẽ được người sử dụng lao động ưu tiên trong tuyển dụng, bố trí công việc phù hợp với trình độ kỹ năng đã được công nhận. Đây là lợi thế rõ rệt trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng coi trọng kỹ năng thực tế thay vì chỉ dựa vào bằng cấp.
Bên cạnh đó, người có chứng chỉ còn được hưởng mức lương, trả công, chế độ nâng lương, nâng bậc, phụ cấp, trợ cấp và các chế độ đãi ngộ theo công việc hoặc chức danh tương ứng với bậc trình độ kỹ năng nghề đã được công nhận. Việc gắn kỹ năng với thu nhập không chỉ tạo động lực cho người lao động nâng cao trình độ mà còn góp phần xây dựng thị trường lao động minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.
Không dừng lại ở đó, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia còn là cơ sở để người lao động được xét công nhận năng lực, ưu tiên trong tuyển dụng, sử dụng, xét nâng bậc lương, phụ cấp, trợ cấp, thăng tiến nghề nghiệp khi có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia ở bậc cao hơn; được xét ưu tiên, tạo điều kiện tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề; được xét công nhận tín chỉ, học phần, hoặc miễn trừ một số học phần, trong chương trình đào tạo nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quyết định của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; tham gia các chương trình đào tạo liên thông, chuyển đổi để tiếp tục học tập, nâng cao trình độ, phù hợp yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp hoặc bậc trình độ kỹ năng nghề trong Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của pháp luật.
Một điểm đáng chú ý là người lao động có chứng chỉ còn được hỗ trợ kết nối việc làm thông qua hệ thống dịch vụ việc làm, đồng thời có cơ hội được xem xét công nhận lẫn nhau về chứng chỉ với các quốc gia, vùng lãnh thổ khác. Đối với những cá nhân đạt chứng chỉ xuất sắc, họ còn được tôn vinh, khen thưởng theo quy định của pháp luật, qua đó tạo động lực lan tỏa trong xã hội về việc học nghề và nâng cao kỹ năng.
Đối tượng, mức hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề; tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Song song với việc bảo đảm quyền lợi, Nghị định cũng quy định cơ chế hỗ trợ cụ thể nhằm khuyến khích người lao động tham gia đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Đối tượng được hỗ trợ là những người thuộc nhóm ưu tiên như người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; Người khuyết tật; Người cao tuổi; Người dân tộc thiểu số; Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; Thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; Trí thức trẻ tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác tại khu kinh tế - quốc phòng và các đối tượng khác do Chính phủ quyết định căn cứ tình hình kinh tế - xã hội.
Về mức hỗ trợ, người lao động thuộc các nhóm này sẽ được hỗ trợ chi phí cấp hoặc cấp lại chứng chỉ với mức tối đa 300.000 đồng/người/ lần. Đồng thời, họ còn được hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian tham gia đánh giá kỹ năng nghề với mức 50.000 đồng/người/ngày. Chính sách cũng hỗ trợ chi phí đi lại cho người lao động từ nơi ở hiện tại đến địa điểm đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo định mức như sau: 200.000 đồng/người/lượt đi và về đối với người lao động cư trú cách địa điểm đánh giá từ 15 km trở lên; 300.000 đồng/người/lượt đi và về đối với người lao động cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cách địa điểm đánh giá từ 5 km trở lên. Ngoài ra, người lao động còn được hỗ trợ tiền dịch vụ tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo mức thu thực tế của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, mức hỗ trợ tối đa 4.000.000 đồng/người/lần theo từng bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia của từng nghề. Đây là khoản hỗ trợ có ý nghĩa lớn, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính, nhất là đối với những người lao động có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, để bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực, pháp luật quy định mỗi người chỉ được hỗ trợ một lần theo chính sách này.
Người lao động còn được hỗ trợ tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Theo đó, người lao động thuộc diện hỗ trợ và chưa từng được hưởng chính sách đào tạo sẽ được hỗ trợ chi phí đi lại, tiền ăn và chi phí đào tạo trong quá trình tham gia khóa học. Mức hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí là 50.000 đồng/người/ngày, với thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng, tạo điều kiện để người lao động yên tâm học tập. Đối với chi phí đào tạo, người lao động được hỗ trợ tối đa 4.000.000 đồng/người cho từng bậc, ngành nghề, đặc biệt áp dụng đối với các nghề thuộc danh mục yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Nguồn kinh phí để thực hiện các chính sách hỗ trợ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, đồng thời huy động từ các nguồn xã hội hóa như doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, các địa phương được trao quyền chủ động trong việc quyết định mức hỗ trợ cao hơn tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, qua đó tăng tính linh hoạt và phù hợp với thực tiễn từng vùng.
Có thể thấy, Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 138/2026/NĐ-CP đã tạo ra nền tảng pháp lý để phát triển kỹ năng nghề tại Việt Nam. Đây không chỉ là công cụ giúp người lao động khẳng định năng lực, nâng cao thu nhập mà còn là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Nguyễn Thị Tâm
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý