Hoạt động của người thực hiện trợ giúp pháp lý trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

Hoạt động nổi bật nhất của người thực hiện trợ giúp pháp lý trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là việc tranh tụng tại phiên tòa. Ở đây, trên cơ sở việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và các chuẩn bị cần thiết, người thực hiện trợ giúp pháp lý sử dụng quyền tranh tụng của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

Để chủ động khi đối đáp tranh luận tại phiên toà, trước hết việc xây dựng hồ sơ tài tiệu, chứng cứ trong vụ án phải đầy đủ, toàn diện khách quan và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; xây dựng và dự thảo bài phát biểu phải phản ánh một cách chính xác, trung thực, chặt chẽ có căn cứ pháp lý những luận cứ, nội dung theo hồ sơ vụ án. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải hệ thống và xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Từ việc nghiên cứu, nắm vững hồ sơ, chứng cứ và các tình tiết của vụ án, người thực hiện trợ giúp pháp lý chuẩn bị đề cương hỏi và đối đáp tranh luận, trong đó dự kiến những vấn đề có thể Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của bị hai, đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa đưa ra ý kiến và đề nghị chuẩn bị từng nội dung đối đáp tranh luận cho phù hợp.
Tại phiên tòa, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tập trung chú ý theo dõi và ghi chép đầy đủ câu hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và nội dung trả lời của người được hỏi; những ý kiến và đề nghị của bị cáo, người bào chữa, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác để sửa đổi, bổ sung cập nhật kịp thời vào nội dung của bản dự thảo đề cương xét hỏi, dự thảo bài phát biểu cho phù hợp với diễn biến phiên tòa. Trường hợp họ trình bày không rõ thì người thực hiện trợ giúp pháp lý đề nghị họ nói rõ thêm để nắm được vấn đề mà họ trình bày.
Trong quá trình nghe, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần phân tích nội dung của vấn đề, đồng thời xác định nhanh nội dung cần đối đáp. Người thực hiện trợ giúp pháp lý cần lưu ý những nội dung, vấn đề mà các bên đưa ra phải là những nội dung có liên quan đến vụ án và phải có trong hồ sơ vụ án. Trường hợp tài liệu mới phát sinh thì cũng phải là tài liệu có liên quan đến vụ án và phải kiểm tra nguồn gốc, tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận đối đáp. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể đề nghị Hội đồng xét xử cắt những ý kiến của các bên không có liên quan đến vụ án để không phải đối đáp lại.
Người thực hiện trợ giúp pháp lý cần chủ động đề nghị Chủ tọa phiên toà tranh luận tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, từng nội dung cụ thể để lựa chọn nội dung nào, vấn đề nào cần đối đáp tranh luận trước v.v. Thông thường, người thực hiện trợ giúp pháp lý nên chọn những vấn đề mà trong hồ sơ vụ án đã được khẳng định cả hình thức lẫn nội dung phù hợp với kết quả thẩm tra công khai tại phiên toà để phản bác ý kiến của Kiểm sát viên, những người bào chữa khác hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Người thực hiện trợ giúp pháp lý cần chú ý những mâu thuẫn trong tranh luận của Kiểm sát viên, người bào chữa và giữa những người bào chữa với nhau, giữa người bào chữa với người bảo vệ quyền lợi của các đương sự trong quá trình tham gia phiên toà, có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là họ không tham gia vụ án từ đầu, không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tại phiên toà hay đi ra đi vào trong quá trình thẩm vấn, không chú ý lắng nghe hết ý kiến của luật sư đồng nghiệp hoặc chỉ đọc nguyên văn bài bào chữa đã chuẩn bị sẵn, không phản ánh được những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa v.v. để làm cơ sở phản bác lại những ý kiến của họ.
Khi tranh luận đối đáp người thực hiện trợ giúp pháp lý khai thác, sử dụng những mâu thuẫn trong lời khai các bị cáo, bị hại, người làm chứng có nhiều người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để tranh luận… và bổ sung kịp thời những chứng cứ, tài liệu và dự thảo đối đáp tranh luận.
Qua nghiên cứu, theo dõi các phiên tòa xét, nhận thấy người thực hiện trợ giúp pháp lý thường phải tranh luận với các tình huống sau:
Một là, tình huống bào chữa theo hướng chứng minh bị cáo không có tội. Trong tình huống này người thực hiện trợ giúp pháp lý thường phân tích, chứng minh các chứng cứ xác định bị cáo vô tội để bác bỏ những chứng cứ của Kiểm sát viên khi buộc tội bị cáo; đưa ra các tài liệu để chứng minh việc bị cáo phạm tội không đầy đủ; hành vi không đủ để cấu thành tội phạm.
Trong các vụ án về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ danh dự, nhân phẩm, rất nhiều tội danh mà khoảng cách giữa tội phạm và không phạm tội rất gần nhau nếu xuất hiện các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi phạm tội như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ (như hành vi phòng vệ chính đáng cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích). Cũng có những hành vi mà lời khai của người phạm tội có ý nghĩa rất lớn trong việc thu hẹp khoảng cách giữa phạm tội và không phạm tội. Chẳng hạn lời khai về yếu tố miễn cưỡng để xác định có hay không hành vi cưỡng dâm hay hành vi đó là thuận tình giao cấu, lời khai về mức độ nghiêm trọng của danh dự bị xúc phạm để xác định có hay không hành vi làm nhục người khác hay chỉ ở mức xử lý hành chính… Do đó, trong luận cứ bào chữa, người trợ giúp pháp phải xác định được những câu hỏi pháp lý mấu chốt, đồng thời phải phân tích những căn cứ pháp lý chứng minh người được trợ giúp pháp lý không phạm tội.
Khi tranh luận, cần căn cứ vào lý luận của cấu thành tội phạm, những dấu hiệu đặc trưng của tội phạm giết người, viện dẫn những chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án và quá trình xét hỏi, thẩm tra tại phiên tòa để lập luận có tính logic từng vấn đề, phản bác các ý kiến của phía đối tượng. Từ đó có thể bảo vê quan điểm chứng minh vô tội của mình.
Hai là, đối đáp với quan điểm về chứng cứ không đầy đủ. Về quan điểm bào chữa này chúng ta thường gặp đối với các trường hợp không quả tang, việc phát hiện vụ án chủ yếu bằng biện pháp truy xét. Trong trường hợp này, bị cáo thường không nhận tội hoặc trong giai đoạn điều tra nhận tội, nhưng khi xét xử thì phản cung, thay đổi lời khai. Cũng có trường hợp do quá trình điều tra có vi phạm trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã lợi dụng các vi phạm này để bác bỏ kết quả điều tra.
Đối với các trường hợp này, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải chuẩn bị kĩ các nội dung để đối đáp như các chứng cứ gỡ tội, xem xét kĩ các biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, gặp bị can, người làm chứng, tiến hành đối chất và nghiên cứu kĩ các quy định của pháp luật… Đồng thời, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần nắm chắc các dấu hiệu đặc trưng của như Tội giết người, cố ý gây thương tích để chuẩn bị đối đáp. Trên cơ sở xây dựng đề cương hỏi, đề cương đối đáp chi tiết và cụ thể. Qua xét hỏi, trình bày bài phát biểu, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần dự báo các ý kiến của bị cáo, người bào chữa để bổ sung đề cương đối đáp. Nói tóm lại, đối với các trường hợp phạm tội không quả tang thì người thực hiện trợ giúp pháp lý cần chuẩn bị thật kỹ các nội dung đối đáp, càng chuẩn bị kỹ thì việc đối đáp càng có sức thuyết phục. Đảm bảo việc bác luận điểm của Kiểm sát viên hay những người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự khác.
Ba là, đối đáp với quan điểm về hành vi không cấu thành tội. Về quan điểm này chúng ta thấy bị cáo – người được trợ giúp pháp lý thừa nhận bị cáo có hành vi trái pháp luật nhưng hành vi đó không cấu thành tội phạm. Đó là trường hợp thường gặp như: trong các vụ án giết người có lỗi của nạn nhân thường chứng minh bị cáo phòng vệ chính đáng, bị kích động mạnh tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân, sự kiện bất ngờ, tình thế khẩn cấp. Đây là những trường hợp cũng khá phức tạp về lý luận và thực tiễn. Do vậy, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải nắm chắc các tình tiết nội dung vụ án, động cơ, mục đích phạm tội, các dấu hiệu đặc trưng của từng loại tội. Trên cơ sở đó xây dựng cho mình quan điểm bảo vệ cáo trạng có lý, có tình, tạo sự ủng hộ, đồng tình của dư luận từ đó giúp bảo vệ tốt cho bị cáo trước các luận điểm của Kiểm sát viên.
Bốn là, tình huống bào chữa về tội danh khác nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Đây là tình huống mà trong thực tiễn thường hay xảy ra, tình huống này, bị cáo và người thực hiện trợ giúp pháp lý thừa nhận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm, nhưng phạm tội nhẹ hơn tội Viện kiểm sát truy tố.
Trong nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm có rất nhiều tội danh có cấu thành tội phạm gần giống nhau. Người thực hiện trợ giúp pháp lý cần bám sát dấu hiệu cấu thành tội phạm và các vấn đề pháp lý phải thoả mãn khi xác định trách nhiệm hình sự của người được trợ giúp. Nếu người được trợ giúp bị truy tố về tội có khung hình phạt nặng mà có đủ cơ sở để bào chữa sang tội danh khác nhẹ hương thì người trợ giúp pháp ý chỉ ra những sai lầm trong việc xác định không đúng tội danh của cáo trạng. Những trường hợp đó thường là: Tội giết người sang tội cố ý gây thương tích; tội giết người hay cố ý gây thương tích; phạm tội giết người hay là vô ý làm chết người; phạm tội giết người hay giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; phạm tội giết người hay giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Tội hiếp dâm sang cưỡng dân; tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi sang tội hiếp dâm;…
Đối với các trường hợp này, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần nắm vững các dấu hiệu đặc trưng của tội nhẹ hơn; các điểm khác nhau cơ bản giữa các tội danh và các tình tiết của vụ án để phân tích trong việc đối đáp bảo vệ luận điểm của mình.
Năm là, đối đáp bào chữa cho rằng bị cáo phạm tội về các khoản khác nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố
Sự thiếu hướng dẫn của pháp luật trong một số tình tiết như: Thực hiện tội phạm một cách man rợ, có tính chất côn đồ, có tổ chức… có hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, nhưng vẫn còn chung chung, nên thực tế vận dụng còn rất tùy nghi. Đây là cơ sở để người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể vận dụng để bào chữa cho bị cáo phạm tội về các khoản nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Để đối đáp với các tình huống này, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần nắm vững các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, thông tư liên tịch, các văn bản hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS để làm căn cứ đối đáp với các ý kiến bác để nghị xét giảm nhẹ hoặc chuyển khung hình phạt nhẹ của mình. Đồng thời, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần bám sát các tình tiết của vụ án để phân tích và đối đáp cho phù hợp với các quy định của pháp luật.
Để làm được điều đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần phải khai thác, phân tích các căn cứ liên quan đến việc xác định khung hình phạt có thể là các chứng cứ xác định người được trợ giúp pháp lý không phạm tôi có tổ chức không có tính chất công đồ, không phải động cơ đê hèn.
Sáu là, tình huống bào chữa chỉ ra sai sót trong quá trình điều tra, truy tố, bỏ lọt tội phạm để đề nghị trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.
Thực tế hiện nay người thực hiện trợ giúp pháp lý thường tập trung vào những vi phạm về thủ tục tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong quá trình giải quyết vụ án giết người, như thiếu chữ ký, có sự tẩy xoá, sửa chữa, ghi ngày, tháng, năm hoặc triệu tập người tham gia tố tụng tại phiên toà không đầy đủ, không có chữ ký của Luật sư trong bản cung.v.v… từ đó để đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận những nội dung trong tài liệu đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đề nghị hoãn phiên tòa để thẩm tra, xác minh những tài liệu đó.
Trong các vụ án về xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, việc thiếu các chứng cứ quan trọng thường gắn với việc Cơ quan điều tra không tiến hành thu thập hoặc không thu thập đầy đủ như việc chứng cứ “có lỗi hay không có lỗi” theo quy định tại Điều 10, 11 BLHS để xác định chính xác các tội danh có hậu quả chết người, thương tích xảy ra và lỗi đối với hậu quả; chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” để phân biệt tội danh giữa các tội xâm phạm tính mạng với nhau hoặc với các tội cố ý gây thương tích; chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt cũng như để giải quyết vấn đề dân sự trong loại án xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người.
Trong những trường hợp như vậy, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải nắm chắc các chứng cứ, vận dụng những quy định của BLTTHS; văn bản phối hợp về mối quan hệ giữa các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc trả lại hồ sơ điều tra bổ sung để khẳng định sụ vi phạm của tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đồng thời chú ý thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòa những thiếu sót về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra để khẳng định bản chất của vụ việc đang được xem xét và phản bác những ý kiến chống lại ý kiến của người thực hiện trợ giúp pháp lý đưa ra.
Giai đoạn xét xử là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự, nơi các chứng cứ được kiểm tra, đánh giá công khai trước Tòa án để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Trong giai đoạn này, trợ giúp viên pháp lý với tư cách là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại và các đối tượng yếu thế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, bảo vệ quyền con người và quyền được xét xử công bằng.
Thông qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, tham gia tranh tụng, trình bày quan điểm bào chữa, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, cũng như giám sát tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử, hạn chế oan sai và bảo đảm các phán quyết của Tòa án được thực hiện trên cơ sở pháp luật và công lý. Đồng thời, việc tham gia của đội ngũ trợ giúp pháp lý tại phiên tòa còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp, thể hiện chính sách nhân đạo và cam kết của Nhà nước trong việc hỗ trợ người yếu thế tiếp cận công lý.
Tuy nhiên, để hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn xét xử phát huy hiệu quả cao hơn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cải thiện chế độ hỗ trợ và bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng cho trợ giúp viên pháp lý. Đây là những giải pháp then chốt nhằm phát huy vai trò của trợ giúp pháp lý trong cải cách tư pháp, thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi mọi công dân đều được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp một cách bình đẳng trước pháp luật.
                                        Tuyết Minh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý