Mỗi học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở các xã biên giới đất liền được hỗ trợ 450.000 đồng/tháng đối với bữa ăn trưa

Ngày 25/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 339/2025/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở học ở các xã biên giới đất liền và có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Chính sách này được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng đề ra tại Nghị quyết số 227/2025/QH15 ngày 17/6/2025 về Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Theo quy định tại Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục, các đối tượng trẻ em, nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo học bán trú do không thể về nhà trong ngày được hỗ trợ tiền ăn trưa. Mỗi trẻ em nhà trẻ được hỗ trợ tiền ăn trưa mỗi tháng là 360.000 đồng. Mỗi học sinh, học viên được hỗ trợ tiền ăn mỗi tháng là 936.000 đồng. Ngoài ra mỗi học sinh bán trú, học viên bán trú được hỗ trợ tiền nhà ở 360.000đồng/1tháng, hỗ trợ gạo mỗi tháng 15kg.
Như vậy, theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP thì chính sách hỗ trợ ăn trưa mới chỉ tập trung vào các đối tượng trẻ em nhà trẻ, học sinh phổ thông học bán trú, có hộ khẩu thường trú tại vùng dân tộc miền núi, vùng đặc biệt khó khăn là con em dân tộc thiểu số hoặc con hộ nghèo, nhà ở xa trường, không thể đi và về trong ngày. Còn lại phần lớn các đối tượng học sinh tiểu học, trung học cơ sở khác học ở các xã biên giới chưa được hưởng chính sách này.
Trên cơ sở đó, Nghị định số 339/2025/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở học ở các xã biên giới đất liền là cần thiết và thiết thực, mang tính nhân văn sâu sắc, tạo ra sự công bằng ngay trong từng lớp học và nhà trường, tránh tình trạng “cùng học một trường nhưng có em được hỗ trợ, có em không được hỗ trợ”; thể hiện sự quan tâm cụ thể, kịp thời của Đảng và Nhà nước đối với học sinh ở vùng cao, vùng biên giới, nơi điều kiện sống và học tập còn nhiều thiếu thốn, qua đó phát triển toàn diện, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, sức khoẻ (cả thể chất và tinh thần), tạo ra động lực tích cực đối với sự phát triển của ngành giáo dục.
Nguyên tắc xét đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ
Học sinh thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Nghị định 339/2025/NĐ-CP, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng của chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất của các chính sách.
Học sinh là đối tượng được hưởng chính sách khác về trợ cấp ưu đãi, trợ cấp xã hội, học bổng khuyến khích học tập thì vẫn được hưởng chính sách quy định tại Nghị định này. Trường hợp học sinh không ăn trưa tại cơ sở giáo dục thì không được hưởng chính sách quy định tại Nghị định này.
Học sinh trong năm học nếu chuyển trường đến học ở địa bàn không thuộc các xã biên giới đất liền thì không được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định tính từ ngày học sinh chuyển trường.
Học sinh trong năm học nếu chuyển trường đến học ở địa bàn thuộc các xã biên giới đất liền thì được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định này kể từ ngày học sinh bắt đầu học tại cơ sở giáo dục.
Có 03 mức hỗ trợ cho học sinh
- Về hỗ trợ tiền ăn, mỗi học sinh được hỗ trợ 450.000 đồng/tháng. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế nhưng không quá 09 tháng/năm học.
- Về hỗ trợ gạo, mỗi học sinh được hỗ trợ 08 kg gạo/tháng. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế nhưng không quá 09 tháng/năm học.
- Về mức hỗ trợ cho học sinh chuyển trường, được tính căn cứ theo số ngày học sinh thực học và số tiền, số kg gạo bình quân một ngày học/tháng.
Ngoài ra, học sinh lớp 1 là người dân tộc thiểu số có học tiếng Việt trước khi vào học chương trình lớp 1 thì được hỗ trợ thêm 01 tháng các chính sách quy định của Nghị định.
Giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục tổ chức bữa ăn trưa cho học sinh
Để bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế tại các địa phương, Nghị định giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục để tổ chức bữa ăn trưa cho học sinh, Theo đó, cơ sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí phục vụ bữa ăn trưa tập trung cho học sinh theo hướng cứ 45 học sinh ăn tập trung thì được hưởng 01 định mức hỗ trợ tổ chức bữa ăn trưa là 2.369.000 đồng/tháng. Số dư từ 20 học sinh trở lên được tính thêm 01 định mức. Trường hợp cơ sở giáo dục có số lượng dưới 45 học sinh ăn tập trung thì được tính 01 định mức. Thời gian được hỗ trợ không quá 09 tháng/năm học.
Kinh phí hỗ trợ cho cơ sở giáo dục phục vụ bữa trưa tập trung được tính theo tổng số học sinh được hưởng chính sách ăn trưa tập trung theo Nghị định này và Nghị định 66/2025/NĐ-CP. Trường hợp cơ sở giáo dục có tổng số học sinh hưởng chính sách theo các Nghị định dưới 45 học sinh, thì được hưởng 01 mức hỗ trợ ở mức cao nhất. Trường hợp cơ sở giáo dục có tổng số học sinh được hưởng hỗ trợ bữa trưa tập trung cho học sinh từ 45 học sinh trở lên, thì tổng số học sinh hưởng hỗ trợ phục vụ bữa ăn trưa cho cơ sở giáo dục được được hỗ trợ kinh phí để mua sắm, bổ sung, sửa chữa dụng cụ thể dục, thể thao, nhạc cụ, máy thu hình và các vật dụng khác phục vụ sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao cho học sinh bán trú với mức hỗ trợ là 180.000 đồng/học sinh bán trú/năm học.
Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ tổ chức bữa ăn trưa theo quy định của Chính phủ về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Đồng thời được hỗ trợ tiền điện, nước phục vụ tổ chức bữa ăn trưa với định mức là 7,5 kWh/tháng/học sinh và 1,5 m³ nước/tháng/học sinh theo giá quy định tại địa phương và được hưởng không quá 09 tháng/năm học. Nơi chưa đủ điều kiện cung cấp dịch vụ điện, nước hoặc bị mất điện, nước thì nhà trường được sử dụng kinh phí để mua, thuê thiết bị phát điện và nước sạch phục vụ bữa ăn trưa cho học sinh.
Nghị định 339/2025/NĐ-CP được ban hành thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến sự phát triển nguồn nhân lực tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, khu vực biên giới; trực tiếp là dinh dưỡng cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở, nâng cao thể trạng, cải thiện sức khỏe cho học sinh, góp phần giữ chân học sinh ở lại trường, hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng, thu hẹp khoảng cách về giáo dục giữa các vùng miền.
Thanh Trang