Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Luật số 121/2025/QH15) thay thế cho Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có hiệu lực thi hành từ 01/3/2026, nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong tình hình mới, nhất là trong bối cảnh tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám sát qua gần 10 năm triển khai thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Trong đó có nhiều điểm mới đáng lưu ý. Xác định rõ giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là “một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước”
Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 khẳng định giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, thông qua theo dõi, xem xét, đánh giá việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; qua đó xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đã định nghĩa việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật; tính kịp thời, đầy đủ và việc tuân thủ về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bổ sung nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân
Theo đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đã bổ sung thêm 03 nguyên tắc so với Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Trong đó, việc bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên tắc đầu tiên trong hoạt động giám sát. Ngoài ra còn quy định các nguyên tắc mới như giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; bảo đảm gắn kết giám sát với hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương. Bổ sung quyền của chủ thể giám sát
Các cơ quan, tổ chức tham dự buổi họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về các Luật được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10
Đây là điều mới được bổ sung vào Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân năm 2025. Việc quy định về quyền của chủ thể giám sát đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho các chủ thể trong việc triển khai hoạt động giám sát theo chức năng và nhiệm vụ được giao.
Theo Điều 4 của Luật, chủ thể giám sát có các quyền: (i) Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà chủ thể giám sát quan tâm; (ii) Yêu cầu giám định, mời chuyên gia tư vấn, thu thập thông tin, tiếp xúc, trao đổi, xem xét, xác minh; (iii) Đề nghị cử người tham gia hoạt động giám sát, phối hợp thực hiện hoạt động giám sát; (iv) Yêu cầu áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; (v) Yêu cầu, kiến nghị xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật hoặc không thực hiện yêu cầu, nghị quyết, kết luận, kiến nghị của chủ thể giám sát; theo thẩm quyền, ban hành nghị quyết, kết luận hoặc kiến nghị giám sát; (vi) Các quyền khác theo quy định.
Để bảo đảm tiến độ giải quyết yêu cầu của chủ thể giám sát, Luật cũng quy định cụ thể về thời hạn giải quyết, trả lời yêu cầu áp dụng các biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật là từ 15 – 30 ngày kể từ ngày chủ thể giám sát yêu cầu. Phân công, phân cấp, phân quyền, phối hợp trong hoạt động giám sát
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; quy định việc tham gia giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức cá nhân khi có đề nghị, yêu cầu của chủ thể giám sát… Luật cũng quy định cụ thể các chủ thể phối hợp trong hoạt động giám sát như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan với thời hạn cụ thể phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu; trách nhiệm báo cáo định kỳ của chủ thể giám sát để bảo đảm tính kịp thời của hoạt động giám sát; tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương khi được Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp giao,… Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động giám sát Các chủ thể giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám sát có trách nhiệm ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động giám sát; bảo đảm sự liên thông, chia sẻ dữ liệu giám sát.
Để triển khai thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành các Nghị quyết quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo các điều, khoản, điểm được giao trong Luật, bảo đảm việc triển khai các quy định của Luật được đồng bộ, thống nhất ngay khi Luật có hiệu lực thi hành (các Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15, Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15, Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15, Nghị quyết số 116/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội)./.
Trần Thị Phượng Phòng Chính sách và pháp luật Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý