Luật Hàng không dân dụng Việt Nam gồm 11 Chương 107 Điều, gồm các nội dung quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng. Bên cạnh nội dung kế thừa các quy định đã được áp dụng ổn định, có hiệu quả, Luật có những điểm mới, quan trong sau:
Luật cơ bản không quy định các nội dung cụ thể, chi tiết, điều kiện, quy trình, thủ tục hành chính và phân công trách nhiệm các cơ quan thuộc Chính phủ; đồng thời bãi bỏ một số nội dung không còn phù hợp như: quy hoạch vùng thông báo bay, kinh doanh dịch vụ bảo đảm hoạt động bay khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện,…
Luật làm rõ quy định về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và Nhà chức trách an ninh hàng không Việt Nam; bổ sung các quy định về người đứng đầu của Nhà chức trách hàng không, giám sát viên an toàn hàng không. Theo đó, Nhà chức trách hàng không Việt Nam là cơ quan thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn hàng không; nhiệm vụ, quyền hạn khác trong lĩnh vực hàng không dân dụng; thực hiện cấp, phê chuẩn, công nhận chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận và các giấy tờ, tài liệu khác liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng theo quy định của ICAO và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Nhà chức trách an ninh hàng không Việt Nam. Nhà chức trách an ninh hàng không Việt Nam là cơ quan thuộc Bộ Công an, chịu trách nhiệm xây dựng, phát triển, thực hiện và duy trì chương trình an ninh hàng không để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng; thực hiện cấp thẻ, giấy phép kiểm soát an ninh hàng không và chứng nhận đào tạo, chứng chỉ năng lực, giấy phép liên quan đến an ninh hàng không.Luật sửa đổi quy định liên quan đến quản lý, khai thác tàu bay và xuất khẩu tàu bay; quy định về quản lý đội tàu bay của các hãng hàng không Việt Nam; quy định về việc nhân viên hàng không; quy định về tổ chức, sử dụng và khai thác vùng trời; về quản lý hoạt động bay. Luật "quy định cứng" dịch vụ Quản lý không lưu (ATM) và Tin tức hàng không (AIS) phải do doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện nhằm bảo vệ tuyệt đối chủ quyền vùng trời và an ninh quốc gia.
Luật bảo vệ quyền lợi hành khác, theo đó quy định cụ thể trách nhiệm của người vận chuyển trong mọi khâu phục vụ hành khách. Hãng bay phải cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về chuyến bay, đặc biệt khi có thay đổi lịch khai thác. Trường hợp hành khách đã được xác nhận chỗ nhưng chuyến bay chậm, hủy hoặc bị từ chối vận chuyển không do lỗi của hành khách, người vận chuyển phải thông báo ngay, xin lỗi và bảo đảm ăn, nghỉ, đi lại, đồng thời chi trả các chi phí phát sinh phù hợp với thời gian chờ tại cảng hàng không. Nếu việc chậm, hủy hoặc từ chối vận chuyển xuất phát từ lỗi của hãng, người vận chuyển phải bồi thường ứng trước, không hoàn lại cho hành khách bằng tiền hoặc chứng từ có giá trị tương đương.
Luật sửa đổi quy định về hoạt động hàng không chung, hàng không chuyên dùng và vận chuyển hàng không thương mại phù hợp với phân loại của Công ước Chicago, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động hàng không chung, phát triển mạnh việc khai thác vùng trời tầm thấp, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Luật bổ sung các quy định về hệ thống quản lý an toàn hàng không[1], quy định về điều tra an toàn sự cố nghiêm trọng, tai nạn tàu bay độc lập và tách biệt với hoạt động giám sát an toàn hàng không của Nhà chức trách hàng không. Luật quy định rõ đối tượng phải xây dựng, triển khai thực hiện hệ thống quản lý an toàn hàng không, gồm: (i) Tổ chức đào tạo, huấn luyện thực hành người lái tàu bay; (ii) Người khai thác tàu bay; (iii) Tổ chức thiết kế, sản xuất, thử nghiệm, bảo dưỡng tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay; (iv) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; (v) Người khai thác cảng hàng không; (vi) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không.
Bên cạnh đó, Luật còn bổ sung, sửa đổi một số nội dung nhằm phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các tiêu chuẩn, quy định của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (viết tắt là ICAO), nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước chuyên ngành và tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hàng không dân dụng như: quy định về đất sử dụng cho cảng hàng không, đầu tư xây dựng cảng hàng không, cơ sở dữ liệu ngành hàng không dân dụng, nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp hàng không, cơ chế hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực giám sát an toàn, an ninh hàng không theo tiêu chuẩn của ICAO; quy định việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, quản lý, điều hành hoạt động hàng không dân dụng thực hiện phù hợp với chính sách, kế hoạch phát triển hàng không dân dụng.
Việc Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2025 được ban hành đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý và tổ chức hoạt động hàng không dân dụng theo hướng hiện đại, minh bạch và tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Luật là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động hàng không, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Giang Nguyễn
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý