VIỆC PHÂN QUYỀN, PHÂN CẤP, VIỆC ỨNG DỤNG, THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ, BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI, VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG DỰ ÁN, DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã được triển khai từ giữa năm 2025, đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng của đất nước. Mô hình này đang tạo ra những thay đổi tích cực trong quản lý nhà nước, từ việc cải cách hành chính đến ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…với mục tiêu tiến tới một nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả và gần gũi với người dân. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy tối đa hiệu quả, cần đẩy mạnh hoàn thiện thể chế trong các lĩnh vực trong đó có thể chế về trợ giúp pháp lý nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tháo gỡ những điểm nghẽn, vướng mắc trong hoạt động trợ giúp pháp lý, tạo đà cho công tác trợ giúp pháp lý bước vào kỷ nguyên mới.

Sau gần 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL), công tác TGPL trên cả nước đã đi vào nề nếp và đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hiện nay, có 22 văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn triển khai thi hành Luật TGPL đang có hiệu lực[1]. Nội dung về TGPL đã được ghi nhận trong các Chương trình mục tiêu quốc gia[2]. Cùng với việc đổi mới công tác truyền thông giúp người dân hiểu và sử dụng dịch vụ TGPL của Nhà nước, các tổ chức thực hiện TGPL đã tập trung vào thực hiện vụ việc TGPL và nâng cao chất lượng TGPL. Số vụ việc TGPL, đặc biệt là số vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng tăng nhanh[3]. Chất lượng vụ việc TGPL ngày càng được quan tâm, chú trọng. Nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng được đánh giá là hiệu quả, thành công[4]. Thông qua các vụ việc TGPL cụ thể, quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL được bảo vệ, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý và hiện thực hóa chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Vai trò của người thực hiện TGPL, đặc biệt là trợ giúp viên pháp lý ngày càng được ghi nhận. Người dân ngày càng tin tưởng và lựa chọn trợ giúp viên pháp lý thực hiện vụ việc TGPL[5]. Trợ giúp viên pháp lý đã có chức danh nghề nghiệp hạng cao nhất (hạng I), qua đó, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp lý trong hệ thống chức danh nghề nghiệp viên chức ngành Tư pháp. Những kết quả mà công tác TGPL đạt được trong thời gian qua đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao, góp phần “giảm nghèo” về pháp luật và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện Luật TGPL năm 2017 cũng bộc lộ một số khó khăn, bất cập, đó là:
Thứ nhất, về cộng tác viên TGPL, Luật TGPL năm 2017 đang giới hạn chỉ ký kết hợp đồng với cộng tác viên ở “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Đồng thời, cộng tác viên TGPL chỉ được thực hiện các vụ việc TGPL theo hình thức tư vấn pháp luật và không được đại diện ngoài tố tụng. Quy định này chưa thu hút được người có trình độ, có năng lực trong xã hội tham gia TGPL, không mở rộng được mạng lưới người thực hiện TGPL ở các địa bàn khác để chủ động tiếp cận và đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương đã sáp nhập, có quy mô địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân số đông.
Thứ hai, về tổ chức thực hiện TGPL: Thực hiện chủ trương sáp nhập tỉnh, sáp nhập xã, bỏ cấp huyện nên nhiều tỉnh, thành phố sau khi sáp nhập có địa bàn rất rộng, điều kiện địa lý và giao thông đi lại khác nhau, dân số đông và đa dạng, kinh tế - xã hội phát triển hơn, “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” đã có sự thay đổi. Trong khi đó, khoản 2 Điều 11 Luật TGPL năm 2017 quy định Chi nhánh của Trung tâmđược thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăngiao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL”. Quy định này không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và điều kiện thực tiễn hiện nay. Do đó, cần sửa đổi quy định về việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm để đáp ứng kịp thời, có hiệu quả nhu cầu TGPL của người dân ở cơ sở.
Thứ ba, sau khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã có quy mô lớn hơn, vị trí, vai trò đã được khẳng định ở tầm cao mới. Để phát huy vai trò của UBND cấp xã trong công tác TGPL, cần quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc phối hợp tổ chức công tác TGPL tại địa phương.
Thứ tư, một số nhiệm vụ chuyên môn như tổ chức thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL đã được phân quyền cho UBND cấp tỉnh tại Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 10/6/2025 về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (Nghị định có hiệu lực đến 01/3/2027).
Đồng thời, trên cơ sở các văn bản của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và các văn bản khác như: 1) Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống trợ giúp pháp lý (TGPL) để người dân dễ tiếp cận pháp luật”; “Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”; 2) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu: thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống TGPL để người dân dễ tiếp cận pháp luật; ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL; bố trí nguồn ngân sách phù hợp, tương xứng cho công tác tổ chức thi hành pháp luật. Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác TGPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số; 3) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia yêu cầu: Nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hoá và dựa trên dữ liệu; tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ Nhân dân; 4) Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh; 5) Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15; Luật Phòng, chống mua bán người số 53/2024/QH15; Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp ngày 07/11/2024 “Phát huy vai trò của TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội” và đặc biệt, theo Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026; Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026, Luật TGPL năm 2017 đã được đưa vào Kế hoạch sửa đổi, bổ sung, dự kiến trình Quốc hội thông qua năm 2026 (Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ chủ trì tham mưu Chính phủ xây dựng văn bản này).
          Để bảo đảm tính toàn diện, dự thảo Luật cần được đánh giá các yếu tố tác động xã hội nhằm mục đích giải quyết những bất cập, hạn chế trong quy định hiện hành của Luật và đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền được tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là nhóm “yếu thế” trong xã hội, trong đó việc phân quyền, phân cấp được xem xét để bảo đảm rõ ràng, hợp lý, phát huy tính chủ động của địa phương; đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL cho người dân và cùng với đó là đánh giá việc bảo đảm bình đẳng giới và chính sách dân tộc giúp dự thảo luật phản ánh nguyên tắc công bằng, không phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho mọi nhóm đối tượng, nhất là phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, được tiếp cận công lý bình đẳng.
Dự thảo Luật TGPL (sửa đổi) sửa đổi quy định thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước theo hướng không giới hạn chỉ được thành lập “tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý”. Việc sửa đổi này phù hợp với chủ trương phân quyền cho địa phương, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, bỏ cấp huyện hiện nay. Đồng thời, giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương để quyết định việc thành lập và địa bàn đặt Chi nhánh của Trung tâm nhằm trao quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương chủ động quyết định thành lập Chi nhánh, thực hiện triệt để nguyên tắc "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã bổ sung quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong TGPL tại khoản 1 Điều 40 Luật TGPL năm 2017 “Trách nhiệm quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý”, cụ thể: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số trong trợ giúp pháp lý”. Đồng thời, bổ sung điểm k tại khoản 2 Điều 40 như sau: Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp Hệ thống  thông tin và cơ sở dữ liệu Trợ giúp pháp lý; thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu trợ giúp pháp lý với Cổng Pháp luật quốc gia. và bổ sung khoản 3 tại Điều 41 như sau “Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.”. Quy định này nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận của người dân và tối ưu hóa hiệu quả dịch vụ TGPL trong thời gian tới.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghệ 4.0 và xu thế xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đã đặt ra yêu cầu xây dựng, vận hành Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu TGPL nhằm thay thế hệ thống hiện có với nhiều tính năng mới đáp ứng nhu cầu quản lý tổ chức và hoạt động TGPL trong điều kiện mới và kế thừa dữ liệu của phần mềm hiện có. Việc quy định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số trong TGPL và xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu TGPL; thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu TGPL trên Cổng Pháp luật quốc gia sẽ giúp thu thập, quản lý, khai thác hiệu quả thông tin trong lĩnh vực TGPL nhằm kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, giúp giảm tải số lượng giấy tờ, giảm số buổi tiếp trực tiếp, giảm quy trình trung gian; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng hoạt động TGPL.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã mở rộng diện người được TGPL và đối tượng làm cộng tác viên TGPL. Việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý bảo đảm sự trung tính, không có sự bất bình đẳng về giới. Mặt khác, chính sách mở rộng diện người được TGPL, cộng tác viên TGPL còn tác động tích cực đến phụ nữ và nam giới ở các nhóm khác nhau, cụ thể:
Việc mở rộng diện người được TGPL không làm phát sinh tác động tiêu cực về giới. Ngược lại, chính sách này có tác động tích cực đến phụ nữ và nam giới ở các nhóm khác nhau, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”. Cụ thể, việc mở rộng diện người được TGPL giúp tăng khả năng tiếp cận pháp luật và dịch vụ pháp lý cho cả nam và nữ, giảm áp lực cho cả nam giới và nữ giới trong công cuộc sinh kế thoát nghèo, tìm lại công lý khi bị bạo lực, bị mua bán, bị lừa dối, bị vi phạm quyền con người, quyền công dân; hỗ trợ tích cực cho nhóm trẻ em, phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số. Qua đó, giảm bớt rào cản tiếp cận pháp luật đối với cả 2 giới, nhất là phụ nữ thuộc nhóm yếu thế, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhóm yếu thế, thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận công lý trong các nhóm dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển của đất nước và các chính sách về bình đẳng giới của Việt Nam.
Việc bỏ điều kiện chỉ phát triển cộng tác viên TGPL ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn dự kiến sẽ thu hút các giới tham gia vào hoạt động TGPL, gia tăng số lượng người thực hiện TGPL, nhất là tham gia trong hoạt động tư vấn, đại diện ngoài tố tụng; nâng cao vị trí, vai trò, chất lượng thực hiện TGPL của cộng tác viên TGPL không làm phát sinh tác động tiêu cực về giới, không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong việc tham gia và thực hiện hoạt động TGPL. Cùng với đó, việc mở rộng điều kiện, hình thức hoạt động của cộng tác viên TGPL tạo thêm cơ hội nghề nghiệp cho cả nam và nữ có chuyên môn pháp luật; đặc biệt là nhóm phụ nữ có năng lực chuyên môn nhưng gặp khó khăn trong việc muốn trở thành cộng tác viên TGPL. Việc có thêm cộng tác viên TGPL là phụ nữ không chỉ góp phần bảo đảm cân bằng yếu tố giới trong đội ngũ người thực hiện TGPL mà quan trọng là còn tạo điều kiện thuận lợi trong việc hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em, đặc biệt là tre em gái và các nhóm dễ bị tổn thương trong các vụ việc TGPL về mua bán người. Chính sách này góp phần bảo đảm bình đẳng giới thực chất, phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của Việt Nam.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được ghi nhận với tính chất là một nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp và được thể hiện thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về trợ giúp pháp lý. Kế thừa những quy định của Luật TGPL năm 2017, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã mở rộng phạm vi đối tượng được TGPL nhằm tiếp tục khẳng định trợ giúp pháp lý là một chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân, là một bộ phận của tổng thể các chính sách về xóa đói, giảm nghèo, chính sách dân tộc và đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, cùng với đó, việc mở rộng đội ngũ người thực hiện TGPL (cộng tác viên TGPL) và các điều kiện bảo đảm khác có tác động tích cực đến việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho công tác TGPL, nhất là tại các địa bàn có diện tích rộng, vùng sâu, vùng xa, địa bàn đi lại khó khăn hoặc các địa phương sau sáp nhập, nơi Trung tâm TGPL nhà nước khó bố trí đủ nhân lực, qua đó nâng cao khả năng bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt đối với người có công với cách mạng, người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương khác.
Chính sách dân tộc được đánh giá trong dự thảo Luật bảo đảm cho công tác TGPL tiếp tục được phát triển bền vững, đi vào chiều sâu và thực chất, khẳng định sự nhất quán của Nhà nước coi chính sách dân tộc là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính sách quốc gia trong việc “giảm nghèo pháp luật”, bảo đảm mọi nhóm yếu thế đều có cơ hội tiếp cận dịch vụ TGPL kịp thời, có chất lượng, không phân biệt vùng miền, thành phần dân tộc, tôn giáo, hướng tới mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển của đất nước.
Đánh giá việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách dân tộc trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL không chỉ là một quy trình theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL mà cần nhìn nhận dưới lăng kính của các nhà hoạch định chính sách về tác động của xã hội, bảo đảm Luật khi ban hành sẽ được thực thi một cách hiệu quả, đi vào cuộc sống.
Văn Tuân
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

[1] 03 Nghị định, 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 16 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và 02 Thông tư liên tịch.
[2] Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (giai đoạn I 2021 - 2025); Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030. Nội dung về TGPL cũng đã được ghi nhận trong Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030
[3] Từ ngày 01/01/2018 đến 30/09/2025, toàn quốc có 258.225 vụ việc TGPL kết thúc, trong đó có 160.140 vụ việc tham gia tố tụng (chiếm 62.01% tổng số vụ việc); 95.797 vụ việc tư vấn pháp luật; 2.218 vụ việc đại diện ngoài tố tụng.
[4] Từ ngày 01/01/2018 đến hết 31/12/2024 có 43.938 vụ việc thành công (chiếm 31,5% tổng số vụ việc tham gia tố tụng).
[5] Trong số 43.938 vụ việc thành công, trợ giúp viên pháp lý thực hiện 37.996 vụ việc thành công, chiếm 86% tổng số vụ việc thành công.