05 chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) nhằm khắc phục những bất cập và đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới
Sự cần thiết sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở
Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Hoà giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song, trước sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, một số quy định không còn phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phát triển mới của đất nước, thực tiễn tổ chức thi hành còn có những điểm khó khăn, vướng mắc. Đồng thời, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về công tác hòa giải ở cơ sở tại các Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW… và trước bối cảnh tổ chức bộ máy nhà nước vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và tạo hành lang pháp lý thúc đẩy công tác hòa giải ở cơ sở trong xu hướng tăng cường các biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và đề xuất các chính sách cơ bản để xây dựng dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Chiều ngày 12/3/2026, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị tham vấn về hồ sơ chính sách dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Hội nghị do ông Cù Thu Anh, Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý và bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý chủ trì, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện thường trực Hội đồng Dân tộc, các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể, một số Sở Tư pháp và hòa giải viên ở cơ sở nhằm góp ý hoàn thiện hồ sơ chính sách của dự án Luật. Hội nghị tham vấn thống nhất với 05 chính sách như sau:
Chính sách 1. Hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hoà giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Theo quy định hiện hành, việc lựa chọn hòa giải viên cơ sở được thực hiện thông qua tổ chức bầu tại cộng đồng dân cư với quy trình chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc dân chủ, công khai. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai đã bộc lộ những bất cập về trình tự, thủ tục do quy trình còn rườm rà, gây tốn kém thời gian và nguồn lực. Bên cạnh đó, nhân sự tổ hòa giải thường xuyên biến động do yếu tố sức khỏe, độ tuổi hoặc điều kiện cá nhân… Sự thiếu linh hoạt trong quy trình bầu hòa giải viên khiến nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực miền núi, biên giới, nơi có địa hình chia cắt, dân cư thưa thớt gặp lúng túng khi phải đáp ứng số lượng hòa giải viên tối thiểu nhưng lại chưa thể tổ chức ngay quy trình bầu hòa giải viên đầy đủ theo quy định.
Trước thực tiễn đó, việc bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên trong dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) là một yêu cầu cần thiết nhằm kiện toàn nhân sự, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng hòa giải viên và duy trì hoạt động ổn định, liên tục của Tổ hòa giải ở cơ sở. Cụ thể, dự kiến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền chỉ định hoà giải viên trong trường hợp nhất định. Việc chỉ định được thực hiện trên cơ sở tiêu chí rõ ràng, quy trình minh bạch, có sự giám sát của cộng đồng nhằm bảo đảm tính khách quan, tránh lạm dụng hoặc phát sinh tiêu cực. Đồng thời, dù được chỉ định, hòa giải viên vẫn phải hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, độc lập, không chịu sự can thiệp hành chính trong quá trình hòa giải. Bên cạnh đó, các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên được quy định đầy đủ hơn, toàn diện hơn giúp nâng cao chất lượng của đội ngũ hòa giải viên từ đó nâng cao hiệu quả hòa giải ở cơ sở.
Chính sách 2. Xác định rõ địa vị, phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở
Theo quy định của pháp luật hiện hành, địa vị, phạm vi tham gia và đặc biệt quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Do đó, việc mời cá nhân có uy tín, kiến thức pháp luật, kiến thức chuyên ngành hoặc kiến thức xã hội… tham gia hòa giải hoặc tư vấn, hướng dẫn cho hòa giải viên giải quyết vụ việc rất hạn chế, chưa huy động được nguồn lực xã hội hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Vì vậy, cần thiết làm rõ địa vị pháp lý, phạm vi tham gia và quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở, từ đó bảo đảm và tăng cường sự tham gia của người có uy tín, người có chuyên môn pháp luật, kiến thức xã hội, người hiểu phong tục, tập quán địa phương trong hoạt động hòa giải ở cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
Tổ hòa giải khu phố 7, phường Hà Khẩu (Quảng Ninh). Nguồn: Báo điện tử Quảng Ninh
Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung quy định về địa vị pháp lý, phạm vi tham gia cũng như quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở sở nhằm khuyến khích, tăng cường trách nhiệm của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở. Cụ thể, chính sách mới tập trung xác định rõ địa vị pháp lý của người được mời tham gia hòa giải ở hai tư cách một là trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải, hai là tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn (pháp luật, xã hội, tập quán, kỹ năng…) cho hòa giải viên; xác định quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải ở sở nhằm khuyến khích, tăng cường trách nhiệm của người được mời tham gia hòa giải ở cơ sở.
Chính sách 3. Bảo đảm nâng cao giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành
Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 không quy định về giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành, chưa quy định thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận hòa giải thành, chưa tương thích với quy định về công nhận kết quả hòa giải thành trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành, đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải xong nhưng vẫn phát sinh tranh chấp mới hoặc khởi kiện ra tòa án, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.
Trước tình hình đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) dự kiến bổ sung chính sách của Nhà nước về việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải ở cơ sở yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Đồng thời, rà soát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải, quy định về tiến hành hoà giải, thực hiện hoà giải thành nhằm thực hiện lập văn bản hoà giải thành và thực hiện thoả thuận hoà giải thành…
Cụ thể, các bên có quyền yêu cầu hòa giải viên lập văn bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành để phục vụ cho mục đích của mỗi bên. Trường hợp đạt được thỏa thuận thì văn bản hòa giải thành là căn cứ để các bên thực hiện thỏa thuận hòa giải thành và yêu cầu Toà án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hoà giải thành; trường hợp không đạt được thỏa thuận, văn bản hòa giải không thành có thể là một trong những tài liệu để các bên sử dụng vào quá trình đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ, việc. Bên cạnh đó, một bên hoặc các bên tham gia hoà giải có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hoà giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính sách 4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở
Pháp luật hiện hành chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở dẫn đến thực tế hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện vẫn chủ yếu dựa vào phương thức thủ công, sử dụng nhiều giấy tờ, gây tốn kém, khó khăn trong lưu trữ, tra cứu và quản lý thông tin. Trước sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý nhà nước hiện đại và bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh chủ trương ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số theo các văn kiện như Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 121-KL/TW, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở là xu thế tất yếu của quá trình vận động và phát triển. Do đó, “Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hòa giải ở cơ sở” đã được Bộ Tư pháp xác định là một trong những chính sách trọng tâm trong quá trình sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở.
Nội dung, giải pháp thực hiện chính sách là quy định xây dựng Cơ sở dữ liệu về hoà giải ở cơ sở, quy định hoạt động hòa giải được thực hiện trên môi trường số bên cạnh việc giải quyết trực tiếp; quy định việc lập văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến hòa giải ở cơ sở được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu số, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật; đa dạng hình thức bầu hòa giải viên, hình thức hòa giải phù hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin (hình thức trực tiếp, trực tuyến và các hình thức phù hợp khác)…
Chính sách này được thiết kế theo hướng không bắt buộc mà phụ thuộc vào điều kiện thực tế và sự thống nhất của cộng đồng dân cư. Điều này bảo đảm rằng ở những nơi chưa đủ điều kiện về hạ tầng công nghệ hoặc kỹ năng số của người dân còn hạn chế, vẫn có thể tiếp tục áp dụng hình thức biểu quyết trực tiếp truyền thống, hình thức hòa giải trực tiếp, quản lý văn bản giấy. Ngược lại, tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác này sẽ phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc hòa giải, lựa chọn hòa giải viên – những người giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng.
Chính sách 5. Xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác hoà giải ở cơ sở
Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân về công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở để thống nhất với quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đồng thời, trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Trên cơ sở đó, hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) cần thiết phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tham gia công tác hoà giải ở cơ sở đặt trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoà giải góp phần giữ gìn đoàn kết cộng đồng và ổn định trật tự xã hội. Trọng tâm quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở; trách nhiệm của Toà án nhân dân. Cụ thể, bổ sung trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc chỉ đạo, hướng dẫn Toà án nhân dân các cấp thực hiện thủ tục công nhận kết quả hoà giải thành ngoài tòa án; tạo điều kiện cho đội ngũ thẩm phán, các cá nhân thuộc phạm vi quản lý tham gia hỗ trợ công tác hoà giải ở cơ sở; chỉ đạo, hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở.
Đồng thời, chính sách này cũng xác định rõ trách nhiệm các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác hoà giải ở cơ sở.
Theo kế hoạch, dự thảo hồ sơ chính sách Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ trình Chính phủ tháng 4/2026. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện các chính sách của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Trên cơ sở ý kiến của thành viên Chính phủ, Bộ Tư pháp sẽ hoàn thiện các chính sách và tiến hành soạn thảo dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở bảo đảm trình Quốc hội khóa XVI kỳ họp thứ hai.
Chu Huyền Ngọc Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý