Đào tạo nghề nông thôn 2030: Nâng cao kỹ năng sống và hiểu biết pháp luật cho người dân

Trong bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội ngày càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với khu vực nông thôn không chỉ dừng lại ở việc tạo sinh kế trước mắt, mà còn hướng tới xây dựng một cộng đồng dân cư có năng lực toàn diện, thích ứng linh hoạt với những biến động của thị trường và xã hội. Việc nâng cao năng lực cho người dân vì thế không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi “dạy nghề để kiếm sống”, mà cần mở rộng sang việc trang bị kỹ năng sống, tư duy quản lý và đặc biệt là hiểu biết pháp luật. Đây là yếu tố nền tảng giúp người dân tự bảo vệ mình trước những rủi ro ngày càng phức tạp. Đề án “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân” (Quyết định 977/QĐ-TTg) đã mở ra một hướng đi mới đầy tính nhân văn... Đó là việc đưa pháp luật vào đời sống thông qua chính những hoạt động thiết thực nhất, gần gũi nhất, mà điển hình là công tác đào tạo nghề nông thôn theo Quyết định 328/QĐ-TTg...

Thực tế lâu nay cho thấy, nhiều người nông dân vẫn cho rằng pháp luật là cái gì đó rất "hàn lâm", khó hiểu, chỉ nằm trong những văn bản nghị định khô khan... Nhưng trên thực tế, từ việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến việc ký kết hợp đồng thu mua, tất cả đều cần đến nền tảng hiểu biết pháp lý.
Chính vì thế, tinh thần của Đề án “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân” đã thổi một luồng gió mới vào công tác phổ biến giáo dục pháp luật. Thay vì những buổi giảng giải lý thuyết khô khan, người dân được tiếp cận pháp luật ngay trong quá trình học nghề, học việc.Người dân học kỹ thuật trồng trọt thì đồng thời được hiểu về Luật Bảo vệ môi trường; học về kinh doanh trang trại thì được trang bị kiến thức về hợp đồng dân sự. Sự chuyển dịch này giúp pháp luật trở nên gần gũi như hơi thở, không còn là những điều cấm đoán mà trở thành công cụ bảo vệ sinh kế và phát triển bền vững cho bà con...
Có thể nói, Chương trình "Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030" là một ví dụ sinh động cho việc hiện thực hóa quyền tiếp cận thông tin của người dân. Cụ thể, đào tạo nghề thời đại mới không chỉ là dạy tay nghề mà còn là dạy kỹ năng thích ứng, kỹ năng sống và tư duy quản lý ... ,trong đó, năng lực tiếp cận pháp luật là một phần không thể tách rời. Khi bà con tham gia vào các khóa đào tạo theo Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”, người dân không chỉ học kỹ thuật sản xuất mà còn từng bước được tiếp cận với các nền tảng số, học cách tra cứu thông tin chính sách trên điện thoại thông minh. Những mã QR tại lớp học hay các diễn đàn trực tuyến của cộng đồng học nghề không chỉ chia sẻ về kỹ thuật canh tác... mà còn là nơi cập nhật những chính sách mới nhất của Nhà nước về hỗ trợ vốn, về thuế hay về chuẩn nông thôn mới. Đây chính là cách chuyển đổi số xóa nhòa khoảng cách, đưa người dân nông thôn trở thành những "công dân số" thực thụ trước năm 2030...
Chuyển đổi số trong đào tạo nghề và phổ biến pháp luật không phải là việc thay thế con người bằng máy móc, mà là dùng công nghệ để phục vụ con người tốt hơn. Đặc biệt với những nhóm đối tượng yếu thế, người nghèo ở nông thôn, hành trình này càng cần nhiều hơn sự đồng hành, kiên nhẫn và sát sao từ cơ sở...Chúng ta vẫn cần những Tổ công nghệ số cộng đồng, những cán bộ tư pháp cơ sở tận tâm để "đi từng ngõ, gõ từng nhà", hướng dẫn bà con cách nhận diện thông tin chính thống. Chuyển đổi số bắt đầu từ những điều rất nhỏ: giúp một người nông dân biết cách gửi phản ánh qua ứng dụng, hướng dẫn một học viên nghề may cách tra cứu quyền lợi bảo hiểm xã hội... Sự phối hợp giữa ngành Tư pháp và các cơ quan quản lý, tổ chức triển khai đào tạo nghề chính là sự cộng hưởng sức mạnh. Một bên cung cấp nội dung pháp luật chuẩn xác, một bên cung cấp "kênh" truyền tải thực tế. Sự phối hợp giữa ngành Tư pháp và các cơ sở đào tạo nghề chính là sự cộng hưởng sức mạnh mang tính chiến lược. Trong mối quan hệ này, ngành Tư pháp đóng vai trò là 'nguồn mạch' cung cấp nội dung pháp luật chuẩn xác; trong khi các cơ quan đào tạo nghề là 'cánh tay nối dài', tạo ra những kênh truyền tải sinh động, gắn chặt với hơi thở của sản xuất. Sự phối hợp này đảm bảo mỗi học liệu số khi đến tay bà con đều đạt tiêu chí: Đúng, Đủ, Sạch và Sống. Đúng về nội dung; Đủ về dung lượng; Sạch về môi trường truyền tải và Sống ở khả năng vận dụng tức thời vào thực tiễn. Chỉ khi thông tin được truyền đạt bằng cả tâm huyết và công nghệ như thế, chúng ta mới có thể tạo ra những 'công dân số' thực thụ, những người không chỉ giỏi nghề mà còn vững vàng về pháp lý từ ngay cấp cơ sở.
Khi mỗi người dân không chỉ giỏi nghề mà còn vững luật, nền tảng dân chủ ở cơ sở sẽ được củng cố vững chắc hơn bao giờ hết. Đề án “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân” và Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030” không chỉ là những văn bản quản lý nhà nước, mà còn làlà sự cam kết đồng hành của Nhà nước trong việc nâng tầm vị thế cho người nông dân Việt Nam.
Phía trước chúng ta là mục tiêu đến năm 2030, nơi mà lao động nông thôn có thể tự tin giao dịch, tự tin sản xuất và chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình dựa trên những nền tảng tri thức nghề nghiệp và tri thức pháp lý đã được trang bị. Giá trị lớn nhất của các Chương trình này không nằm ở những bản báo cáo hay chỉ tiêu hành chính, mà nằm ở niềm tin của người dân vào pháp luật và vào khả năng vươn lên bằng tri thức. Khi niềm tin ấy được nuôi dưỡng và lan tỏa, hành trình xây dựng một nông thôn mới hiện đại, văn minh và bền vững chắc chắn sẽ trở thành hiện thực./.
Đàm Linh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý