Quy định về trợ giúp pháp lý cho người làm chứng trong vụ án hình sự

Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách quan trọng của nước ta, chính sách này đã trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những nhiệm vụ quan trọng được ghi nhận nổi bật trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Qua đó, thể hiện tầm quan trọng của công tác TGPL trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội nhằm bảo đảm tất cả người dân đều bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng pháp luật.

Việc tiếp tục lấy người được trợ giúp pháp lý làm trọng tâm là nguyên tắc cốt lõi, đảm bảo hoạt động TGPL thực sự ý nghĩa, nhân văn. Luật TGPL lần đầu tiên được ban hành vào năm 2006, đánh dấu bước phát triển mới của công tác TGPL, lần đầu thiết lập một khuôn khổ pháp lý thống nhất, bài bản cho việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Theo quy định tại Luật TGPL 2006, người được trợ giúp pháp lý bao gồm có các nhóm đối tượng: “1.Người nghèo; 2. Người có công với cách mạng. 3. Người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa. 4. Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”[1]. Đối tượng này tiếp tục được mở rộng từ 04 diện người lên 14 diện người theo Luật TGPL năm 2017, bao gồm: 1. Người có công với cách mạng.  2. Người thuộc hộ nghèo. 3. Trẻ em. 4. Người dân tộc thiểu số  trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 5. Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. 6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo. 7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
a) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
b) Người nhiễm chất độc da cam;
c) Người cao tuổi;
d) Người khuyết tật;
đ) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;
e) Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
g) Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
h) Người nhiễm HIV.”.
Việc mở rộng diện người được TGPL của Luật TGPL 2017 đã giúp cho hàng triệu người có khó khăn, vướng mắc pháp luật được TGPL nhất là nhóm đối tượng người yếu thế trong xã hội. Đến thời điểm hiện tại, Luật TGPL 2017 đã triển khai thi hành được gần 10 năm, do đó, đứng trước yêu cầu phát triển mới và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã được nâng cao, để tiếp tục hiện thực hóa mục tiêu lấy người được TGPL làm trung tâm, ngày 23/4/2026, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Theo đó, lần sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý này tiếp tục mở rộng hơn diện người được trợ giúp pháp lý; trong đó bổ sung thêm nhiều diện đối tượng, như là: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; nạn nhân, người dưới 18 tuổi đi cùng nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định của Luật Phòng chống mua bán người… thuộc diện được trợ giúp pháp lý.
Một trong những điểm mới về đối tượng người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi là quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người làm chứng thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, theo quy định này, không phải tất cả người tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng trong các vụ án tố tụng dân sự, tố tụng hành chính đều được TGPL, mà chỉ có người làm chứng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự mới là người được TGPL. Điều này đã được quy định cụ thể tại điểm a khoản 6 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Bàn về tư cách của người làm chứng trong vụ án hình sự, khoản 1 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “1. Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng”[2]. Theo quy định này, thì bất kỳ ai cũng có thể là người làm chứng, miễn là đáp ứng đủ điều kiện của người làm chứng theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Chỉ trừ những người sau sau đây không được làm chứng:
“a) Người bào chữa của người bị buộc tội;
 b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.[3].
Khi tham gia tố tụng, người làm chứng có các quyền như sau:
   “a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
   b) Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
  c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
 d) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.[4].
Có thể khẳng định, trong vụ án hình sự, người làm chứng là một trong những tư cách xuất hiện ở hầu hết các vụ án hình sự. Người làm chứng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan, làm rõ các tình tiết, các vấn đề, các khía cạnh của vụ án. Trong nhiều vụ án, người làm chứng đóng vai trò khá then chốt, nếu không có người làm chứng thì không thể xác định và giải quyết được vụ án. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của người làm chứng, nhất là người làm chứng là người dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự, với độ tuổi này, họ chưa hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần, cho nên khi phải tham gia quá trình tố tụng hình sự, có nhiều trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên sẽ hoang mang, sợ hãi khi phải làm việc với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, việc tái hiện sự việc và diễn đạt bằng lời nói của họ chưa hoàn thiện, dễ bị nhầm lẫn giữa thực tế và tưởng tượng, dễ bị ảnh hưởng, định hướng bởi ý kiến của người khác. Do vậy, trong trường hợp này, người làm chứng là người dưới 18 tuổi rất cần được giúp đỡ, hỗ trợ từ người có chuyên môn pháp lý. Xuất phát từ thực tiễn này, Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định, người làm chứng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được trợ giúp pháp lý[5] và để đồng bộ với Luật này, Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16 sửa đổi một số điều Luật Trợ giúp pháp lý cũng quy định người làm chứng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 là người được TGPL.
Việc quy định người là chứng là người dưới 18 tuổi được trợ giúp pháp lý là một trong những quy định rất cần thiết, góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm đầy đủ quyền của người làm chứng là người dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự, giúp họ có điều kiện yên tâm khai báo, từ đó nâng cao chất lượng chứng cứ và hiệu quả trong quá trình giải quyết vụ án.
 
 
Bùi Như Lan, Phòng Quản lý trợ giúp pháp lý
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
 

[1] Điều 10 Luật TGPL năm 2006
[2] khoản 1 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
[3] Khoản 2 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
[4] Khoản 3 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
 
[5] Khoản 6 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên.