Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định cụ thể 05 nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, cụ thể như sau:
Thứ nhất, mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 được xây dựng trên cơ sở thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới, tạo điều kiện thuận lợi để công dân (không phân biệt đối xử về giới), các đối tượng yếu thế trong xã hội thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Kế thừa quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 tiếp tục quy định “
Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin” là một trong những nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Đồng thời chỉnh sửa, bổ sung nguyên tắc người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Quy định này nhằm thực hiện khoản 4 Điều 5 Hiến pháp 2013 về
“Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Thứ hai, thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ.
Đây là nguyên tắc được kế thừa từ Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm bảo đảm công dân được tiếp cận nguồn thông tin trung thực, khách quan. Việc quy định nguyên tắc này góp phần nâng cao chất lượng cung cấp thông tin, tạo cơ sở để công dân, cơ quan, tổ chức khai thác, sử dụng thông tin đúng mục đích, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; đồng thời hạn chế tình trạng cung cấp thông tin sai lệch, thiếu sót hoặc không thống nhất, qua đó tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ ba, việc cung cấp thông tin phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số; bảo đảm việc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.
So với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã bổ sung trong nguyên tắc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số nằm hiện đại hóa phương thức thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; tạo điều kiện để người dân, cơ quan, tổ chức tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi; giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin; nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước; đồng thời thúc đẩy xây dựng Chính phủ số, chính quyền số.
Thứ tư, việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Đây tiếp tục là nguyên tắc được kế thừa từ Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm bảo đảm việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin chỉ được thực hiện trong những trường hợp thật sự cần thiết, có căn cứ pháp lý rõ ràng và do luật quy định; qua đó ngăn ngừa việc lạm dụng hạn chế quyền tiếp cận thông tin một cách tùy tiện.
Thứ năm, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác.
Đây là nguyên tắc tiếp tục được kế thừa từ Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin được đặt trong khuôn khổ pháp luật, hài hòa giữa quyền của cá nhân với lợi ích chung của Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức hoặc của người khác.
Điều 5 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định các hành vi bị nghiêm cấm sau đây: (i) Cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn cung cấp thông tin; không cung cấp thông tin theo quy định; hủy hoại thông tin; làm giả thông tin; (ii) Cung cấp, sử dụng thông tin để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, kích động bạo lực, gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; (iii) Cung cấp, sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (iv) Cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người cung cấp thông tin; cản trở hoạt động cung cấp thông tin; (v) Phát tán, mua bán trái pháp luật hoặc cố ý làm lộ thông tin được cung cấp liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh theo quy định tại Điều 16 của Luật; (vi) Lợi dụng việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức.
Đây là quy định mới được bổ sung mới so với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý để phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thực hiện đúng mục đích, đúng giới hạn và trong khuôn khổ pháp luật.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026./.