Những kết quả nổi bật trong các lĩnh vưc khi triển khai thực hiện
Về lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật: Đối với người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hoạt động PBGDPL được thực hiện thông qua các hình thức: biên soạn tài liệu tiếng dân tộc, sổ tay, đĩa CD; xây dựng chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc; phổ biến trực tiếp; lồng ghép phổ biến trong hoạt động tôn giáo, văn hóa truyền thống... Nhiều hình thức, mô hình PBGDPL được thực hiện phù hợp với nhu cầu, đặc điểm, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của từng dân tộc, vùng miền như: Các chương trình phát thanh bằng 13 thứ tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Thái, Dao, Chăm, Êđê, Cơtu, Jarai, K’ho, Xơ-đăng, M’nông, Bana, Kh’mer, Tày-Nùng) trên Đài Tiếng nói Việt Nam; Tổ tuyên truyền, PBGDPL trong đồng bào dân tộc Khmer và vận động không vi phạm pháp luật”; Làng thanh niên “02 không, 02 có”; Câu lạc bộ Phụ nữ dân tộc thiểu số với pháp luật; Sách nói pháp luật cho người dân tộc thiểu số; Câu lạc bộ “3 tích cực trong đồng bào dân tộc Khmer hay mô hình tổ tự quản trong người Hoa, đồng bào dân tộc Khmer; Tổ tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong đồng bào dân tộc Khmer và vận động không vi phạm pháp luật; PBGDPL cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua người có uy tín, nhân sĩ trí thức, doanh nhân tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số...
Bên cạnh đó, triển khai Quyết định số 279/QĐ-TTg ngày…của Thủ tướng Chính phủ về…, nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ báo cáo viên pháp luật (BCVPL), tuyên truyền viên pháp luật (TTVPL) tại vùng đồng bào DTTS&MN, Bộ Tư pháp đã xây dựng các tài liệu bồi dưỡng kỹ năng PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN cho BCVPL, TTVPL, hỗ trợ một số địa phương thuộc vùng đồng bào DTTS&MN thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực cho đội ngũ BCVPL, TTVPL
[1]; vận hành, duy trì chuyên mục “PBGDPL vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” trên Cổng Thông tin điện tử PBGDPL quốc gia nhằm cung cấp các thông tin, tài liệu cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN.
Về lĩnh vực trợ giúp pháp lý: Trong những năm qua, TGPL đã giúp hàng nghìn người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi có vướng mắc, tranh chấp pháp luật, qua đó góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền công bằng trong tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý trong xét xử cũng như bình đẳng trong tranh tụng. Thông qua các hoạt động nâng cao hiểu biết và tiếp cận dịch vụ TGPL tại vùng DTTS&MN, số vụ việc, đặc biệt là số vụ việc tham gia tố tụng tăng hơn. Theo số liệu thống kê của các địa phương (Trung tâm TGPL nhà nước) trên toàn quốc, đã có 73.522 vụ việc tham gia tố tụng cho người dân tộc thiểu số trong 08 năm (từ khi Luật TGPL năm 2017 có hiệu lực đến nay). Riêng trong năm 2025 là 6.652 vụ việc, chiếm 24,57% tổng số vụ việc TGPL trong toàn quốc. Nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng do người thực hiện TGPL thực hiện thành công, hiệu quả giúp người dân tộc thiểu số bảo vệ được quyền lợi hợp pháp, hoà nhập cộng đồng, ổn định đời sống.
Để bảo đảm tính kịp thời trong thi hành các quy định về công tác dân tộc, Bộ Tư pháp đã tham gia Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 – 2025; tham gia vào quá trình xây dựng, góp ý, thẩm định các chính sách liên quan đến chính sách dân tộc; các văn bản hướng dẫn về người thuộc diện được TGPL, trong đó có người dân tộc thiểu số bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Về lĩnh vực hoà giải ở cơ sở: Hiện nay, cả nước có 137.331 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số (trong tổng số 547.235 hòa giải viên cả nước) chiếm tỷ lệ 25%. Bộ Tư pháp luôn quan tâm, chú trọng công tác hòa giải ở cơ sở tại vùng đồng bào tân tộc thiểu số. Bộ đã lựa chọn các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống làm chỉ đạo điểm nâng cao năng lực cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở
[2]. Bộ đã tổ chức nhiều hội nghị tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải ở cơ sở cho đội ngũ hòa giải viên tại các xã chỉ đạo điểm, hoà giải viên tham dự tập huấn chủ yếu là người dân tộc thiểu số
[3]. Bộ biên soạn và phát hành các tài liệu dành cho hòa giải viên là người dân tộc thiểu số và dịch ra ngôn ngữ dân tộc: như 200 câu hỏi đáp pháp luật dành cho hòa giải viên người dân tộc thiểu số dịch ra tiếng Tày
[4]; Truyện tranh tuyên tuyền chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống dịch ra tiếng Mông, tiếng Thái; in và phát hành 3.200 cuốn Sổ tay “Bảo đảm bình đẳng giới trong quá trình hòa giải ở cơ sở” để cấp phát cho các tổ hòa giải tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… Các tài liệu này được gửi đến Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố để phát hành đến tổ hòa giải và phát thanh trên loa truyền thanh ở cơ sở, đồng thời đăng tải rộng rãi trên mạng internet.
Những khó khăn, vướng mắc đặt ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai công tác PBGDPL, TGPL và hòa giải ở cơ sở tại vùng DTTS và miền núi vẫn còn nhiều khó khăn. Trước hết, điều kiện địa lý, hạ tầng và nguồn lực còn hạn chế là rào cản lớn. Nhiều địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, kinh phí dành cho công tác PBGDPL và TGPL còn eo hẹp, trong khi đây lại là khu vực có nhu cầu tiếp cận pháp luật cao. Rào cản về ngôn ngữ và trình độ dân trí cũng là một thách thức đáng kể. Một bộ phận người dân không biết tiếng phổ thông, không biết chữ, trong khi cán bộ làm công tác pháp luật lại không thông thạo tiếng dân tộc, dẫn đến hạn chế trong tiếp cận và cung cấp dịch vụ pháp lý. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành trong thực hiện chính sách còn chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ. Công tác kiểm tra, giám sát có nơi còn chưa kịp thời, chưa nắm bắt đầy đủ những khó khăn phát sinh trong thực tiễn. Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin ở vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, ảnh hưởng đến việc ứng dụng chuyển đổi số trong PBGDPL&TGPL. Chế độ hỗ trợ, động viên đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên chưa đủ hấp dẫn, chưa tạo động lực lâu dài. Hòa giải viên ở cơ sở tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số không có điều kiện cập nhật kiến thức pháp luật, không thường xuyên được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải. Hòa giải viên là người dân tộc thiểu số còn hiểu biết chính sách pháp luật hạn chế, tiến hành hòa giải dựa theo kinh nghiệm sống của bản thân, phong tục, tập quán của địa phương, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải yếu.
Kiến nghị hoàn thiện chính sách trong thời gian tới
Từ thực tiễn triển khai
công tác PBGDPL TGPL và HGCS cho thấy việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật, đặc biệt là Điều 18 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, là hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL và TGPL cho đồng bào DTTS. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật theo hướng cụ thể, khả thi, phù hợp với đặc thù vùng DTTS sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL, TGPL và HGCS, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và phát triển bền vững.