Công tác trợ giúp pháp lý cho người dân vùng biên giới Việt Nam – Lào: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả

Việt Nam hiện có 09 tỉnh có chung đường biên giới với Lào, gồm: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi với tổng chiều dài đường biên giới hơn 2.300 km. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, đồng thời là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với những đặc thù về ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Thêm vào đó vẫn còn rào cản về địa lý, giao thông, trình độ dân trí và khác biệt ngôn ngữ đã khiến việc tiếp cận pháp luật của người dân ở một số nơi còn hạn chế. Chính vì vậy, công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) không chỉ đơn thuần là một nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là cầu nối đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, giúp mang niềm tin và công lý đến với các nhóm yếu thế, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ gìn an ninh trật tự và tăng cường quan hệ hữu nghị Việt Nam – Lào.

1. Các hoạt động triển khai công tác TGPL
Ở Trung ương, Cục PBGDPL&TGPL đã tăng cường tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông về TGPL với các phương thức và nội dung đa dạng; chủ động tiếp cận người dân để tìm hiểu nhu cầu TGPL. Chú trọng thực hiện vụ việc TGPL cho người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, nạn nhân bị mua bán và các đối tượng đặc thù khác theo quy định của pháp luật TGPL. Ví dụ, năm 2025, Cục PBGDPL&TGPL đã xây dựng phát sóng một số chương trình, phóng sự, diễn án về TGPL thành công trên các kênh truyền hình như: TGPL cho người có công với cách mạng tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất; TGPL cho người bị buộc từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong một số vụ án hình sự; TGPL cho người thuộc hộ nghèo trong vụ án “Trộm cắp tài sản”;... trên các kênh truyền hình như VTV5, VTV TNB, VTV TN phủ sóng tới các tỉnh vùng biên giới Việt – Lào.
Ở địa phương, các địa phương đã chủ động đổi mới, đa dạng hóa các phương thức truyền thông về TGPL phù hợp với từng đặc thù địa bàn, trình độ dân trí của người dân. Thông qua tổ chức các đợt truyền thông hướng đến các cán bộ ở cơ sở (trưởng thôn, cán bộ Hội phụ nữ, Hội nông dân, cán bộ tư pháp - hộ tịch, người có uy tín trong cộng đồng,…) tại các tỉnh có chung đường biên giới với Lào sẽ giúp họ có những thông tin cơ bản về TGPL để từ đó làm cầu nối giữa người dân và TGPL, nắm bắt được nhu cầu TGPL của người dân và chủ động hướng dẫn người dân tìm đến Trung tâm TGPL nhà nước khi có tranh chấp, vướng mắc pháp luật.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Cục PBGDPL&TGPL và các địa phương ngày càng chú trọng công tác nâng cao năng lực cho người thực hiện TGPL. Cục PBGDPL&TGPL tổ chức nhiều Hội nghị, Hội thảo tập huấn cho trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện TGPL và những người có liên quan về chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng TGPL theo các hình thức: tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính; kỹ năng TGPL cho nhóm đối tượng đặc thù như người dân tộc thiểu số, trẻ em, nạn nhân bạo lực gia đình, người khuyết tật... Nhìn chung, công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ TGPL ngày càng được chú trọng, quan tâm hơn, vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực TGPL được nâng lên, bảo đảm tính chuyên môn hóa và chất lượng vụ việc TGPL.
          2. Kết quả thực hiện vụ việc TGPL
          2.1. Thực hiện TGPL cho người Việt Nam thuộc diện được TGPL tại các tỉnh vùng biên giới Việt Nam - Lào
          Từ ngày 01/01/2025 đến ngày 31/12/2025, các tổ chức thực hiện TGPL tại 09 tỉnh giáp biên giới với Lào đã thụ lý 5.769 vụ việc TGPL (trong đó có 5.312 vụ việc tham gia tố tụng) và đã hoàn thành 4.934 vụ việc TGPL cho tổng số 4.517 lượt người được TGPL (trong đó có người nghèo; người dân tộc thiểu số; người vừa là người nghèo vừa là người dân tộc thiểu số; người có công với cách mạng; trẻ em, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm người có khó khăn về tài chính theo quy định của Luật TGPL).
          Hầu hết các vụ việc được thẩm định, đánh giá đều đạt chất lượng trở lên. Các Trung tâm thuộc các tỉnh vùng biên giới đã thực hiện được nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công, có nhiều vụ án được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân; bị hại được bồi thường thiệt hại theo quy định, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL.
          2.2. Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người Lào thuộc diện được trợ giúp pháp lý
          Theo quy định tại Điều 4 Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa hai nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được ký tại Viêng Chăn ngày 11/01/2023, có hiệu lực từ ngày 01/01/2024[1] thì: “Công dân của mỗi Bên có quyền được miễn, giảm chi phí tố tụng và được trợ giúp pháp lý miễn phí trên lãnh thổ của Bên kia theo cùng những điều kiện và mức độ như công dân của Bên kia”.
Như vậy, công dân Lào có quyền được TGPL với cùng điều kiện và mức độ như công dân Việt Nam. Chẳng hạn, để được TGPL tại Việt Nam, người dân Lào cần được cơ quan có thẩm quyền tại Lào xác nhận hoặc cấp giấy chứng nhận là người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật, người cao tuổi, người nhiễm HIV, nạn nhân của hành vi mua bán người,… có khó khăn về tài chính; vụ việc TGPL xảy ra tại Việt Nam phải liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại...Như vậy, theo quy định thì khi công dân Lào thuộc diện được TGPL yêu cầu TGPL tại Việt Nam đều được các Trung tâm TGPL nhà nước của Việt Nam thụ lý và cung cấp dịch vụ TGPL.
3. Thuận lợi, khó khăn
3.1. Thuận lợi
- Ngày 23/4/2026, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua trong đó bổ sung quy định:
“Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý”, điều này bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong việc cung cấp dịch vụ TGPL cho công dân Lào.
- Công tác TGPL tại các địa phương có chung đường biên giới với Lào luôn được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, Sở Tư pháp; sự hướng dẫn chỉ đạo về chuyên môn của Bộ Tư pháp, Cục PBGDPL&TGPL; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền cấp cơ sở và sự hưởng ứng của nhân dân. Công tác phối hợp giữa Trung tâm TGPL nhà nước và các cơ quan có liên quan, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truyền thông về TGPL, giới thiệu đối tượng đến Trung tâm TGPL nhà nước được các địa phương quan tâm hơn, đặc biệt từ khi thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 29/2025/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/12/2025 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.
- Thực hiện Luật TGPL, công tác TGPL trong toàn quốc nói chung, các tỉnh giáp biên giới Lào nói riêng đã tập trung nguồn lực vào thực hiện vụ việc, đặc biệt là các vụ việc tham gia tố tụng. Số lượng các vụ việc tham gia tố tụng ở nhiều tỉnh đã tăng lên đáng kể. Một số địa phương như Đà Nẵng (992 vụ việc), Nghệ An (982 vụ việc), Thanh Hoá (816 vụ việc), Quảng Ngãi (793 vụ việc) có số vụ việc TGPL tham gia tố tụng tương đối cao[2].
-  Công tác truyền thông được tăng cường thực hiện tại cơ sở, đặc biệt, nội dung TGPL đã được đưa vào các Chương trình mục tiêu quốc gia: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 – 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma túy đến năm 2030. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản gửi các địa phương hướng dẫn thực hiện TGPL tại 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. Các Chương trình này đều có các hoạt động yêu cầu tăng cường, nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động TGPL; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện TGPL để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma tuý có hỗ trợ kinh phí vụ việc phức tạp, điển hình liên quan đến ma tuý cho một số địa phương.
- Ngày 19/5/2022, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp đã ký ban hành Chương trình phối hợp số 1603/CTPH-BTP-TANDTC giữa Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao về người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án nhân dân để chính thức áp dụng chung cho 34 tỉnh, thành phố toàn quốc. Các tỉnh có chung đường biên giới với Lào đã triển khai thực hiện trực qua điện thoại phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương.
- Thực hiện Chương trình phối hợp số 5789/CTPH-BTP-BCA ngày 27/11/2023 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an về phối hợp trực trợ giúp pháp lý trong điều tra hình sự, trong các tỉnh có chung đường biên giới với Lào đã có một số tỉnh ký kết chương trình/kế hoạch phối hợp giữa Sở Tư pháp và Công an tỉnh[3],
- Đội ngũ người thực hiện TGPL, đặc biệt là Trợ giúp viên pháp lý và luật sư tham gia TGPL có trình độ, năng lực chuyên môn, thường xuyên học tập, không ngừng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu TGPL ở địa phương. Việc thụ lý và giải quyết các vụ, việc được đảm bảo về tiến độ, chất lượng, không gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được TGPL, không có trường hợp khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến chất lượng vụ việc TGPL.
          3.2. Khó khăn
- Điều kiện giao thông tại các tỉnh biên giới giữa Việt Nam và Lào còn nhiều khó khăn; dân cư chủ yếu là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại các khu vực vùng sâu, vùng xa ảnh hưởng đến việc người dân tiếp cận với tổ chức thực hiện TGPL.
- Nhận thức về TGPL của một bộ phận người dân thuộc diện được TGPL ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa biết đến hoạt động TGPL hoặc chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của TGPL trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần thực hiện an sinh xã hội, chỉ khi có tranh chấp phát sinh và được giải thích rõ ràng về những lợi ích khi được TGPL thì họ mới hiểu và đề nghị TGPL. Một số nơi, trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng đều, người được TGPL đa phần là người dân tộc thiểu số; một số người gặp khó khăn trong việc trình bày nội dung vụ việc và yêu cầu TGPL do không thành thạo tiếng phổ thông nên e ngại khi tiếp xúc với các cơ quan, tổ chức trong đó có tổ chức thực hiện TGPL. Việc truyền thông về Hiệp định, trong đó có quyền được TGPL của công dân hai nước chưa được chuyên sâu và đổi mới.
- Nguồn lực phục vụ triển khai công tác TGPL tại một số địa phương còn hạn chế; số lượng cán bộ, công chức, người thực hiện công tác chuyên môn biết tiếng dân tộc và tiếng Lào còn hạn chế.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác TGPL đặc biệt trong các hoạt động hợp tác tại địa bàn này còn chậm, hiệu quả chưa cao.
4. Phương hướng nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác trợ giúp pháp lý cho người dân ở vùng biên giới Việt Nam – Lào trong thời gian tới
4.1. Đối với Bộ Tư pháp hai nước
- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về hợp tác với nước bạn; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động hợp tác quốc tế. Phối hợp hỗ trợ, thực hiện các hoạt động trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực TGPL.
- Đẩy mạnh hoạt động trao đổi kinh nghiệm và nâng cao năng lực chuyên môn trong lĩnh vực TGPL. Hỗ trợ các tỉnh biên giới trong hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ làm công tác TGPL.
4.2. Đối với các địa phương khu vực biên giới
- Tăng cường, mở rộng hợp tác về công tác truyền thông, TGPL với các địa phương biên giới nước bạn; chủ động tổ chức trao đổi, đánh giá tình hình hợp tác và cùng nhau trao đổi kinh nghiệm; hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ, khuyến khích Tư pháp cơ sở có chung đường biên giới gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm công tác và chuyên môn nghiệp vụ theo khả năng và điều kiện thực tế của địa phương mình.
- Đẩy mạnh công tác TGPL để người dân sinh sống ở khu vực biên giới giữa hai nước hiểu được pháp luật hai nước để sống và làm việc theo đúng quy định của pháp luật. Tiếp tục đổi mới hình thức, áp dụng các hình thức sinh động, dễ hiểu, chọn lọc, phát triển các mô hình, biện pháp tuyên truyền, TGPL hiệu quả, phù hợp với đối tượng, địa bàn và nhu cầu của nhân dân.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng tiếng Lào và tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ làm công tác TGPL tại khu vực biên giới.
- Đa dạng các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương giáp biên giới hai nước.
Lê Thị Thảo Ly
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Theo Thông báo số 51/2023/TB-LPQT ngày 22/12/2023 của Bộ Ngoại giao về việc Điều ước quốc tế có hiệu lực
[2] Số liệu tính từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/12/2025.
[3] Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi.