Tiếp tục chuyên nghiệp hóa đội ngũ trợ giúp viên pháp lý: Điểm nhấn quan trọng trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, với tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) (sau đây gọi là Luật) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý của người dân, nhất là các nhóm yếu thế trong xã hội. Trong đó, nhóm quy định liên quan đến trợ giúp viên pháp lý tại các từ Điều 19 đến Điều 23 được sửa đổi, bổ sung theo hướng đồng bộ, chặt chẽ và chuyên nghiệp hơn, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.

Hoàn thiện tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý
Trợ giúp viên pháp lý là lực lượng nòng cốt trực tiếp thực hiện chính sách TGPL của Nhà nước khi cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội. Chất lượng đội ngũ này có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đặc biệt trong các vụ việc tố tụng hình sự, dân sự, hành chính. Xuất phát từ yêu cầu đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý theo hướng bảo đảm tính chuyên nghiệp, thống nhất với hệ thống pháp luật có liên quan.
Về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL tiếp tục kế thừa các quy định của Luật TGPL năm 2017 khi quy định công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, đào tạo nghề và kinh nghiệm thực tiễn có thể được xem xét trở thành trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể, người được bổ nhiệm phải có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc thuộc trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý. So với TGPL năm 2017, quy định mới đã tách điều kiện “không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật” ra khỏi nhóm tiêu chuẩn chung và chuyển thành điều kiện xem xét bổ nhiệm tại Điều 21. Việc sửa đổi này giúp bảo đảm kỹ thuật lập pháp chặt chẽ hơn, phân định rõ giữa tiêu chuẩn nghề nghiệp với điều kiện bổ nhiệm cụ thể.
Đồng thời, để phát huy nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL đã bổ sung một trong những tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý là “Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý” . Đây là điểm mới hợp lý, thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở thực tiễn quản lý đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong thời gian qua. Quy định này không chỉ tránh việc những người đã từng là trợ giúp viên pháp lý phải thực hiện lại quá trình tập sự khi quay trở lại công tác, mà còn góp phần giữ chân, thu hút và tận dụng đội ngũ có kinh nghiệm chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và hiểu biết thực tiễn về hoạt động trợ giúp pháp lý. Qua đó, bảo đảm tính ổn định, tính kế thừa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý trong bối cảnh yêu cầu đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng cao.

Bên cạnh đó, Luật đã bổ sung rõ các trường hợp không được xem xét bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, người đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả đối với trường hợp đã được xóa án tích; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý sẽ không được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Quy định này thể hiện yêu cầu ngày càng cao đối với tính chuẩn mực, liêm chính và uy tín nghề nghiệp của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý – những người đại diện cho Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý và quyền con người cho các đối tượng yếu thế.
Kế thừa quy định của Luật TGPL năm 2017, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL tiếp tục tạo cơ chế để những người đã từng bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý nhưng sau đó đáp ứng đầy đủ điều kiện và lý do miễn nhiệm không còn thì có thể được xem xét bổ nhiệm lại.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương nghề nghiệp trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Song song với việc hoàn thiện tiêu chuẩn và cơ chế bổ nhiệm, Luật sửa đổi cũng đặc biệt chú trọng nâng cao kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Theo Điều 22 được sửa đổi, các trường hợp miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý được quy định cụ thể, chặt chẽ hơn so. Đáng chú ý, thời hạn không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng dẫn đến bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ được rút ngắn từ 02 năm xuống còn 12 tháng liên tục, trừ trường hợp có nguyên nhân khách quan. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng có trợ giúp viên pháp lý được bổ nhiệm nhưng không trực tiếp tham gia thực hiện vụ việc trong thời gian dài, ảnh hưởng đến chất lượng và tính thực chất của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý. Qua đó, bảo đảm người được cấp thẻ phải thường xuyên hoạt động nghề nghiệp, duy trì kỹ năng chuyên môn và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác trợ giúp pháp lý. Luật cũng mở rộng các trường hợp bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ như: bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý; bị kết án bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc. Các quy định này thể hiện rõ yêu cầu nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức công vụ và tính gương mẫu của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong bối cảnh yêu cầu của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý công ngày càng cao.
Giảm thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch trong quản lý đội ngũ
Một điểm mới đáng chú ý khác là Luật đã bổ sung quy định về các trường hợp “đương nhiên miễn nhiệm” trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, trường hợp trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác khác, thôi việc, cho thôi việc hoặc nghỉ hưu thì thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị mà không cần thực hiện thêm thủ tục miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý như trước đây. Quy định này góp phần tinh gọn thủ tục hành chính, giảm khối lượng công việc phát sinh cho cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong công tác quản lý đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Bên cạnh đó, Luật cũng bãi bỏ Điều 23 của Luật hiện hành và tích hợp nội dung về cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý vào Điều 21 nhằm bảo đảm cấu trúc luật ngắn gọn, logic và thuận tiện hơn trong áp dụng pháp luật.
Một số nhiệm vụ cần triển khai nhằm bảo đảm các quy định mới được triển khai thống nhất, hiệu quả
Để các quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đi vào cuộc sống, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; rà soát, sửa đổi các quy trình nghiệp vụ, tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và các quy định có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và người làm công tác quản lý trợ giúp pháp lý cần được tăng cường để kịp thời cập nhật các quy định mới của Luật. Các địa phương cũng cần rà soát, kiện toàn đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, bảo đảm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng, phù hợp với nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân trên địa bàn.
Bên cạnh nhiệm vụ hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện, công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý và các điểm mới của Luật cần được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức phù hợp nhằm giúp người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, hiểu và tiếp cận đầy đủ hơn với quyền được trợ giúp pháp lý. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý với Cổng Pháp luật quốc gia và các cơ sở dữ liệu có liên quan cũng cần được triển khai hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng quản lý, theo dõi, điều hành và phục vụ người dân ngày càng thuận tiện, nhanh chóng hơn.
Việc triển khai hiệu quả các quy định mới của Luật không chỉ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý mà còn tiếp tục khẳng định vai trò của trợ giúp pháp lý trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý và thực hiện chính sách an sinh xã hội của Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nguyễn Phan Thuỳ Linh,
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý