Sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở: Nâng cao hiệu quả giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ (SỬA ĐỔI)
 
Hòa giải ở cơ sở là một phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có hiệu quả tại cộng đồng dân cư nhằm góp phần ổn định an ninh, trật tự xã hội ở cơ sở, củng cố và tăng cường sự đoàn kết cộng đồng. Thực tiễn cho thấy hòa giải ở cơ sở đã góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng, hạn chế khiếu kiện vượt cấp, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư bình yên, hạnh phúc.

Sau hơn 12 năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, tổ hòa giải được thành lập hầu hết ở các thôn, tổ dân phố trên cả nước với hơn 547.000 hòa giải viên. Các tổ hòa giải ở cơ sở trên cả nước đã tiếp nhận trên 1,52 triệu vụ việc, tiến hành hòa giải thành hơn 1,23 triệu vụ việc, tỷ lệ hòa giải thành đạt 81,92%. Nhiều mâu thuẫn trong quan hệ gia đình, làng xóm; tranh chấp về tài sản (thừa kế, đất đai, vay mượn dân sự…) được hòa giải viên kịp thời tiến hành hòa giải, giúp các bên giải quyết tranh chấp ổn thỏa, hàn gắn lại mối quan hệ đã bị phá vỡ.

Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự phát triển vượt trội của công nghệ thông tin, sự hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực, đồng thời thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đòi hỏi công tác hòa giải ở cơ sở phải có sự đổi mới để theo kịp sự phát triển đó. Đồng thời một số quy định trong Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã không còn phù hợp, ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Do đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 là hết sức cần thiết. Căn cứ vào cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn, ngày 04/5/2026, Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ Tờ trình số 63/TTr-BTP về chính sách của Luật Hòa giải ở cơ sở. Ngày 21/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 134/NQ-CP thông qua 05 chính sách của Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc soạn thảo dự thảo Luật.
 

II. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG, LƯỢC BỎ CỦA DỰ THẢO LUẬT

1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

- Phạm vi điều chỉnh: Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) quy định chính sách của Nhà nước về hoà giải ở cơ sở, hoà giải viên, tổ hoà giải, người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở; hoạt động hoà giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hoà giải ở cơ sở. Luật này không áp dụng đối với hoạt động hoà giải đã được văn bản quy phạm pháp luật khác quy định.   
      
- Đối tượng áp dụng: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động hoà giải ở cơ sở.

2. Bố cục của dự thảo Luật

 Dự thảo Luật được kết cấu gồm 05 chương, 35 điều (tăng 02 điều so với Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013). Cụ thể:
- Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; phạm vi hoà giải ở cơ sở; nguyên tắc tổ chức, hoạt động hoà giải ở cơ sở; chính sách của Nhà nước về hoà giải ở cơ sở; kinh phí cho công tác hoà giải ở cơ sở.

- Chương II. Hoà giải viên, tổ hoà giải, người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở, các bên trong hoà giải ở cơ sở (từ Điều 7 đến Điều 21) quy định về tiêu chuẩn hoà giải viên, bầu, chỉ định, công nhận hoà giải viên, quyền, nghĩa vụ của hoà giải viên, thôi làm hoà giải viên; tổ hoà giải, trách nhiệm của tổ hoà giải, tổ trưởng tổ hoà giải, quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hoà giải; người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở, quyền, nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải; quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải.

- Chương III. Hoạt động hoà giải ở cơ sở (từ Điều 22 đến Điều 30) quy định về căn cứ tiến hành hoà giải; phân công hoà giải viên; địa điểm, thời gian hoà giải; hình thức tiến hành và hỗ trợ tham gia hoà giải; hoà giải giữa các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau; kết thúc hoà giải; kết quả hoà giải; thực hiện thoả thuận hoà giải thành, công nhận văn bản về kết quả hoà giải thành; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thoả thuận hoà giải thành.

- Chương IV. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hoà giải ở cơ sở (từ Điều 31 đến Điều 33) quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
- Chương V. Điều khoản thi hành (Điều 34 và Điều 35) quy định điều khoản chuyển tiếp, hiệu lực thi hành.

3. Những nội dung kế thừa, sửa đổi, bổ sung, lược bỏ

Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở tiếp tục kế thừa một số quy định còn giá trị như: (1) phạm vi hòa giải ở cơ sở; (2) tiêu chuẩn hòa giải viên; (3) nguyên tắc hòa giải ở cơ sở; (4) công nhận hòa giải viên; (5) các quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên; (6) quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải…

Dự thảo Luật cũng sửa đổi, bổ sung những nhiều nội dung mới quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và khắc phục bất cập trong Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013:

(1) Sửa đổi nguyên tắc “Giữ bí mật thông tin đời tư của các bên” thành “Giữ bí mật thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên, bí mật nhà nước và thông tin khác được pháp luật bảo vệ mà hoà giải viên, người được mời tham gia hoà giải biết được trong quá trình hoà giải”; sửa đổi nguyên tắc “Không lợi dụng hoà giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự” thành “Không lợi dụng hoà giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự, trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước và nghĩa vụ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”.

 Bổ sung mới 03 nguyên tắc: “Hoà giải ở cơ sở không thay thế biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự”; “Phương thức hoà giải tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của từng vụ, việc” và “Ngôn ngữ dùng trong hoà giải ở cơ sở là tiếng Việt. Các bên có quyền lựa chọn sử dụng tiếng Việt hoặc ngôn ngữ của dân tộc mình. Các bên là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền sử dụng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật”.

 (2) Bổ sung hình thức biểu quyết trực tuyến; bổ sung việc bầu có thể được thực hiện tại từng cụm dân cư; bổ sung quy định tại dự thảo Luật về kết quả bầu chỉ được công nhận khi có trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham gia bầu; sửa đổi quy định về người được đề nghị công nhận là hoà giải viên từ điều kiện “phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý” thành “người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% số người tham gia bầu đồng ý”; bổ sung quy định cụ thể về giới hạn số lần bầu bổ sung…

(3) Bổ sung quy định về chỉ định hoà giải viên nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong trường hợp đã tổ chức bầu bổ sung hoà giải viên nhưng không đạt mục tiêu đề ra (không đủ về số lượng hoà giải viên trong một tổ hoà giải hoặc không có hoà giải viên nữ; tổ hoà giải ở vùng dân tộc thiểu số không có hoà giải viên là người dân tộc thiểu số) hoặc đã tổ chức bầu bằng một trong các hình thức theo quy định nhưng đến lần thứ hai vẫn không bảo đảm có trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham gia bầu hoặc không thể tổ chức bầu hoà giải viên bằng các hình thức theo quy định do sự kiện bất khả kháng. Người được chỉ định làm hoà giải viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn của hoà giải viên và không thuộc trường hợp đã được đưa ra bầu mà có kết quả bầu trên 50% số người tham gia bầu không đồng ý...

(4) Tăng thêm quyền của hòa giải viên để tương xứng với trách nhiệm mà họ đảm nhận: được tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hoà giải; mời người tham gia hoà giải ở cơ sở; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn pháp luật liên quan đến vụ, việc hoà giải tư vấn, hỗ trợ vụ, việc hoà giải; được trực tiếp đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã, lực lượng Công an cấp xã có phương án bảo đảm an ninh trật tự khi tiến hành vụ, việc hoà giải trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên và của hoà giải viên hoặc gây mất trật tự công cộng và được hỗ trợ khi ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện các hoạt động hoà giải ở cơ sở bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn.

(5) Bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của người được mời tham gia hoà giải ở cơ sở. Quy định rõ phạm vi tham gia, vai trò của người được mời tham gia hoà giải gồm: (i) Trực tiếp tham gia hoà giải vụ, việc cùng với hoà giải viên; (ii) Tư vấn, hỗ trợ kiến thức, phương thức, kỹ năng hoà giải cho hoà giải viên (tư vấn nội dung pháp luật, kiến thức chuyên ngành trong các lĩnh vực, kiến thức xã hội, hỗ trợ tra cứu phong tục tập quán của từng vụ, việc hoà giải cụ thể…). Đáng chú ý, người được mời trực tiếp tham gia hoà giải ở cơ sở được hưởng thù lao khi tiến hành hoà giải và được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.

(6) Điểm nổi bật là Luật bổ sung các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở. Theo đó, khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, trang bị phương tiện kỹ thuật và bảo đảm các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động hoà giải ở cơ sở phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số theo quy định của pháp luật; việc bầu hòa giải viên, bầu tổ trưởng tổ hoà giải, hình thức hoà giải có thể được tiến hành trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến.

Những nội dung được lược bỏ so với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013: Bỏ quy định “Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hoà giải ở cơ sở” để thống nhất với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước (nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm); bỏ quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong công tác hoà giải ở cơ sở nhằm thực hiện Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; bỏ quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ trong thực hiện quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở. Nội dung này sẽ được quy định tại Nghị định của Chính phủ. Về nguồn lực thực hiện hoạt động hòa giải, dự thảo Luật quy định kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở do ngân sách nhà nước bảo đảm và các nguồn tài chính hợp pháp khác. Quy định này nhằm khẳng định vai trò của hòa giải ở cơ sở là một thiết chế văn hóa - pháp lý quan trọng trong cộng đồng, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, giải quyết mâu thuẫn từ sớm, từ xa, giảm áp lực cho các cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính nhà nước.
Ngày 10/6/2026, Bộ Tư pháp đã có Tờ trình số 90/TTr-BTP trình Chính phủ hồ sơ dự án Luật Hoà giải ở cơ sở. Dự kiến Chính phủ sẽ trình Quốc hội khoá XVI dự thảo Luật này tại kỳ họp thứ hai.
 
CỤC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ