Triển khai thi hành Bộ Luật Hình sự năm 2015 trong hoạt động trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra

Những kết quả đạt được của trợ giúp pháp lý trong quá trình triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 2015
Bộ luật hình sự năm 2015 đóng vai trò rất quan trọng, là văn bản pháp lý nền tảng của Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống tội phạm góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là một trong những lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi TGPL[1]. Những năm qua, các Trung tâm TGPL Nhà nước trên toàn quốc đã tích cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL thực hiện nhiều vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án hình sự.
Theo số liệu thống kê của các địa phương, trong vòng 05 năm, từ năm 2022-2025 trên phạm vi cả nước, các vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự chiếm đa số trong tổng số các vụ việc trợ giúp pháp lý đã kết thúc, cụ thể như sau:
* Năm 2021, số vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự được thực hiện là 15.085 vụ việc (chiếm 66.2% tổng số vụ việc TGPL) của 63 tỉnh, thành phố.
* Năm 2022, số vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự được thực hiện là 29,652 vụ việc (chiếm 67,25% tổng số vụ việc TGPL) trên 63 tỉnh, thành phố.
* Năm 2023, số vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự được thực hiện là 38.530 vụ việc (chiếm 70,86% tổng số vụ việc TGPL) của 63 tỉnh, thành phố.
* Năm 2024, số vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự được thực hiện là 43.862 vụ việc (chiếm 73% tổng số vụ việc TGPL) của 63 tỉnh, thành phố.
* Năm 2025, số vụ việc TGPL trong đó lĩnh vực hình sự được thực hiện là 23.723 vụ việc (chiếm 73.6% tổng số vụ việc TGPL) của 34 tỉnh, thành phố.
Những con số trên cho thấy nhu cầu TGPL trong lĩnh vực hình sự ngày càng tăng không chỉ về số lượng vụ việc mà chất lượng vụ việc ngày càng được chú trọng. Nhiều vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá hiệu quả để xác định vụ việc tham gia tố tụng thành công. Trong đó, có những vụ việc bào chữa cho bị can, bị cáo được cơ quan tiến hành tố tụng chuyển tội danh, chuyển khung hình phạt; nhiều vụ án bị hại được nhận bồi thường để bù đắp cho những tổn thất cả về vật chất và tinh thần. Thông qua các vụ việc TGPL, các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL đã giúp người được TGPL bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật;  hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ công lý, góp phần đáng kể vào thành tựu chung của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật.
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động TGPL, giúp người được TGPL có điều kiện tiếp cận sớm dịch vụ TGPL cũng như tăng cường trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phát hiện, chuyển gửi thông tin vụ việc TGPL, hạn chế bỏ sót nhu cầu của người được TGPL trong các vụ án và nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc, nhất là vụ việc TGPL trong lĩnh vực hình sự, ngày 23/4/2026, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16) với kết quả biểu quyết 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết. Một trong những điểm mới của Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16 là đã luật hóa cơ chế trực TGPL tại Toà án nhân dân và trực trong điều tra hình sự, cơ chế phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng nhằm nâng tầm một cơ chế đang được vận hành hiệu quả trong thực tiễn thành quy định có giá trị pháp lý cao trong văn bản luật. Điều này bảo đảm tính ổn định, thống nhất và lâu dài của cơ chế phối hợp liên ngành trong TGPL; đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan trong việc bảo đảm quyền được TGPL của người được TGPL, nhất là quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ án hình sự.
Một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện TGPL trong quá trình triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 2015
* Cần bảo đảm tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024
Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 được Quốc khoá XV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2024. Vì vậy, cần có sự rà soát, đánh giá tự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định trong BLHS năm 2015 với các quy định trong Luật Phòng, chống mua bán người, để bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ và thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện. Ví dụ khái niệm “Mua bán người” trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 và tội danh “Mua bán người” trong Bộ luật hình sự.
* Khó khăn trong Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Trước 30/9/2025, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể, khiến cho việc áp dụng tình tiết này trong quá trình bào chữa, bảo vệ cho người được TGPL trong vụ án hình sự gặp khó khăn.
Ngày 30/9/2025, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP về điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự  là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là trường hợp tội phạm đã được thực hiện nhưng thiệt hại (vật chất hoặc phi vật chất) không xảy ra trên thực tế. Khi xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cần phân biệt với trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A phá cửa nhà người khác để lấy trộm chiếc xe máy trị giá 20.000.000 đồng. A đã đưa được xe máy ra khỏi cổng nhà thì bị chủ nhà phát hiện, hô hoán nên hàng xóm ngăn chặn, bắt giữ được A cùng xe máy. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ 2: Nguyễn Văn A phá cửa nhà người khác để lấy trộm chiếc xe máy trị giá 20.000.000 đồng nhưng khi đang cố gắng tìm cách mở khóa xe thì bị chủ nhà phát hiện, bắt giữ. Trường hợp này, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
b) Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là trường hợp tội phạm đã được thực hiện và đã gây ra thiệt hại (thiệt hại thực tế đã xảy ra) nhưng thiệt hại xảy ra không lớn so với mức bình thường của tội phạm đó. Việc xác định thiệt hại lớn hay không lớn phải căn cứ vào giá trị thiệt hại (thiệt hại vật chất), ảnh hưởng của thiệt hại đến chủ sở hữu và xã hội (thiệt hại phi vật chất). Đối với thiệt hại vật chất thì căn cứ vào trị giá quy đổi thành tiền, đối chiếu với định lượng bằng tiền quy định trong các cấu thành tội phạm tương ứng mà tội phạm xâm phạm. Đối với thiệt hại phi vật chất thì đánh giá mức độ ảnh hưởng của tội phạm tới tâm lý, tinh thần, uy tín, danh dự sức khỏe của bị hại, mức độ ảnh hưởng tới dư luận, đời sống xã hội, cộng đồng để xem xét xác định.
Mặc dù Nghị quyết đã hướng dẫn cụ thể hơn về các trường hợp áp dụng, song việc xác định thiệt hại phi vật chất thông qua việc: “đánh giá mức độ ảnh hưởng của tội phạm tới tâm lý, tinh thần, uy tín, danh dự sức khỏe của bị hại, mức độ ảnh hưởng tới dư luận, đời sống xã hội, cộng đồng để xem xét xác định” mang tính định tính, khó định lượng, khó xác định được mức độ thiệt hại thực tế. Điều này khiến cho việc xác định và chứng minh mức độ thiệt hại trong thực tiễn còn gặp khó khăn, ảnh hướng nhất định tới quá trình thực hiện bào chữa, bảo vệ cho người được TGPL trong vụ án hình sự.
* Hoàn thiện quy định đối với hành vi lừa đảo trên không gian mạng
Bên cạnh sự phát triển nhanh của công nghệ số kéo theo hàng loạt vấn đề về công nghệ: như hành vi lừa đảo trên không gian mạng để đánh cắp thông tin cá nhân và chiếm đoạt tài sản với các hình thức ngày càng tinh vi, phổ biến như: giả danh ngân hàng, cơ quan chức năng, lừa đảo giao dịch để chiếm đoạt tài sản… trong khi đối tượng được TGPL thường là nhóm người yếu thế, người dễ bị tổn thương như: người nghèo, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện, kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, người khuyết tật… nên họ rất dễ trở thành nạn nhân của các hành vi lừa đảo này. Tuy nhiên, hiện tại các hành vi lừa đảo qua mạng được xử lý theo quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015, chủ yếu áp dụng với hình thức lừa đảo lừa đảo truyền thống, chưa có hướng dẫn cụ thể về các hình thức lừa đảo phạm tội mới phát sinh trên môi trường số như trên.
* Tăng cường bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
Một vấn đề nữa là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường không gian mạng hiện nay đang là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số và cần có những thiết chế đủ mạnh, đủ sức răn đe các đối tượng sử dụng mạng internet để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều hành vi lợi dụng internet để xâm hại trẻ em, Ví dụ những hành vi về khiêu dâm[2] đối với trẻ em trên môi trường mạng, thì BLHS năm 2015 chưa có quy định về một tội phạm riêng về văn hóa phẩm khiêu dâm đối với trẻ em, người dưới 18 tuổi. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.
Nhìn chung, việc triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 trong hoạt động trợ giúp pháp lý đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của thực tiễn, việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan là cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự.
Bùi Như Lan, Phòng Quản lý trợ giúp pháp lý
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
 

[1] Khoản 1 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại”.
[2] Khiêu dâm là hành vi dùng hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động khêu gợi, kích thích dâm ô, ham muốn tình dục trái với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam bao gồm: mô tả bộ phạm sinh dục, khỏa thân, mô tả khỏa thân hoặc không khỏa thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức (Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa).