Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hoà giải ở cơ sở trong thời gian tới

24/12/2025
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

1. Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra rất mạnh mẽ, sâu rộng, tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đặt trong bối cảnh đó ở Việt Nam, chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng, Nhà nước đặt ra và định hướng chỉ đạo cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều văn kiện, văn bản được Đảng, Nhà nước ban hành đã xác định rõ yêu cầu chuyển đổi số đối với quốc gia và trong mọi lĩnh vực. Trong đó có Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030…

Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã chỉ rõ: “Cần tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy tiềm năng và nguồn nhân lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,…; “Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh”. Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong đó một trong những nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới là “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động để cải cách tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị; … Đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp”.

Luật Hoà giải ở cơ sở được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20/6/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Luật được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện, vững chắc cho hoạt động hoà giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả và tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Sau hơn 10 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế triển khai thi hành Luật đã phát sinh vướng mắc, tồn tại, hạn chế cần được khắc phục, nhất là khi theo quy định pháp luật hiện hành, việc hoà giải vẫn được thực hiện theo phương thức truyền thống. Luật Hoà giải ở cơ sở quy định “Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên”; chưa có quy định về việc hoà giải bằng hình thức trực tuyến (hoà giải trên môi trường điện tử/không gian mạng), chưa có quy định việc thực hiện lập văn bản hoà giải điện tử, ký xác nhận bằng chữ ký điện tử; chưa có quy định nhằm hiện đại hoá, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở…

Bên cạnh đó, tham khảo một số quy định về ứng dụng công nghệ hiện đại và giải quyết tranh chấp trực tuyến tại Trung Quốc cho thấy, Tòa án Tối cao đã thành lập nền tảng ODR quốc gia tại địa chỉ www.fayuan.com vào năm 2017. Chỉ trong vòng một năm, hơn 1.000 tòa án và 12.000 tổ chức hòa giải đã tham gia. Thông qua nền tảng này, các bên có thể nộp đơn yêu cầu hòa giải, chọn hòa giải viên, tham gia qua video và ký thỏa thuận bằng điện thoại, máy tính bảng hoặc máy tính. Ngoài ra, chính quyền tỉnh Chiết Giang đã thiết lập nền tảng giải quyết tranh chấp trực tuyến toàn diện tại địa chỉ yundr.gov.cn, cung cấp dịch vụ đa dạng như: tư vấn, đánh giá, hòa giải và trọng tài[1].

Trên cơ sở đó, trong bối cảnh hiện nay, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hoà giải ở cơ sở là xu hướng tất yếu, khách quan, qua đó nhằm thay đổi phương thức, cách thức quản lý, triển khai hoạt động hoà giải ở cơ sở trong thời gian tới, bảo đảm phù hợp với chủ trương chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ đã được xác định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kết luận số 121-KL/TW...cũng như xu thế phát triển trên thế giới.

2. Một số đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hoà giải ở cơ sở

Căn cứ cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn cũng như tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc về vấn đề này, đề xuất một số nội dung cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hoà giải ở cơ sở sau đây:

Một là, bổ sung quy định hình thức hoà giải trực tuyến (thông qua điện thoại, video call với sự hỗ trợ số cơ bản hoặc các ứng dụng trực tuyến khác…) trong thời gian tới nhằm đa dạng phương thức hòa giải ở cơ sở; xem xét bổ sung quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải trong việc lựa chọn phương thức, địa điểm hoà giải để bảo đảm thuận tiện, linh hoạt, nhanh chóng cho người dân và việc hoà giải, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hoà giải ở cơ sở.

Hai là, bổ sung quy định về hình thức bầu, biểu quyết trực tuyến trong quy trình, thủ tục bầu hòa giải viên; quy định về biên bản hòa giải điện tử, góp phần bảo đảm quá trình lựa chọn hòa giải viên minh bạch, khách quan, dễ giám sát, nhanh chóng, thuận tiện nhất là trong bối cảnh đội ngũ hoà giải viên ở cơ sở thường xuyên biến động; đồng thời nâng cao trách nhiệm và cam kết của hòa giải viên đối với cộng đồng.

Ba là, quy định về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở trên Cổng dịch công quốc gia; quy chuẩn hóa các biểu mẫu, thủ tục số hóa để người dân, tổ chức có thể tra cứu, theo dõi tiến trình hòa giải, giảm chi phí đi lại, tiết kiệm thời gian và nguồn lực; đồng thời nâng cao tính minh bạch, chính xác của hồ sơ, dữ liệu hòa giải, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng bộ với chủ trương chuyển đổi số quốc gia[2].

Bốn là, quy định cụ thể về chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, gồm các quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở (hồ sơ, kết quả hòa giải, dữ liệu thống kê, dữ liệu về hòa giải viên, bảo bảo kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cấp (từ tổ hòa giải đến trung ương) và liên thông với các hệ thống quản lý chung của Nhà nước); Sổ theo dõi hoạt động hoà giải ở cơ sở điện tử. Hòa giải viên và cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng phần mềm, ứng dụng để lập biên bản, ký xác nhận điện tử, lưu trữ phiên hòa giải trực tiến, tổ chức hòa giải trực tuyến, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng hoà giải ở cơ sở trực tuyến; báo cáo, định kỳ và theo dõi, cập nhật, trích xuất thông tin, số liệu về hoà giải ở cơ sở trên cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở….

3. Kết luận

Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, trong đó có công tác hòa giải ở cơ sở là xu hướng tất yếu, yêu cầu khách quan trong thời gian tới nhằm hiện đại hóa phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác hoà giải ở cơ sở. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật cần đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp về tổ chức thực hiện, con người, hạ tầng kỹ thuật … sẽ góp phần đưa công tác hòa giải ở cơ sở bảo đảm thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.
 
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Tham khảo bài viết của tác giải Jiang Heping và Andrew Wei-Min Lee, Chuyên gia Cao cấp tại Trung Quốc, Quỹ Quốc tế Weinstein (Mediation Developments in China tại địa chỉ https://weinsteininternational.org/china/china-bio/)
[2] Hiện nay, lĩnh vực hòa giải ở cơ sở có 05 thủ tục hành chính: (i) Thủ tục công nhận hòa giải viên; (ii) Thủ tục công nhận tổ trưởng tổ hòa giải; (iii) Thủ tục thôi làm hòa giải viên; (iv) Thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên; (v) Thủ tục thực hiện hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải. Trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, theo đó, đã phân định thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong công tác hoà giải ở cơ sở. Tuy nhiên, Nghị định này chỉ có hiệu lực đến ngày 28/02/2027. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Hoà giải ở cơ sở, quy trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả thủ tục hành chính hiện nay vẫn chủ yếu sử dụng văn bản giấy, thủ công, tốn kém chi phí in ấn, lưu trữ và nhân lực. Ngoài ra, việc lưu trữ hồ sơ giấy cũng gây khó khăn trong việc tổng hợp, báo cáo số liệu, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước. Việc yêu cầu là lưu trữ hồ sơ và trả lời bằng văn bản giấy đòi hỏi không gian lưu trữ vật lý, dễ bị thất lạc hoặc hư hỏng, đồng thời cũng gây khó khăn cho công tác tra cứu, quản lý và bảo mật thông tin

Xem thêm »