Một số đề xuất nội dung tiêu chí tiếp cận pháp luật trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới

30/12/2025
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

ĐẶT VẤN ĐỀ
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, trong khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc. Việt Nam có nhiều loại địa hình đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Mặc dù đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp (địa hình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ). Đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là đồng bằng Bắc Bộ (lưu vực sông Hồng, rộng 16.700 km2) và đồng bằng Nam Bộ (lưu vực sông Mê Kông, rộng 40.000 km2), các đồng bằng nhỏ hẹp được phân bố dọc theo duyên hải miền Trung (diện tích 15.000 km2). Về khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn (khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều). Bên cạnh đó, đất đai đa dạng, có độ phì cao; nguồn nước dồi dào từ sông ngòi dày đặc. Với đặc điểm tự nhiên này tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp với đa dạng cây trồng, vật nuôi, canh tác nhiều vụ trong năm[1]. Vì vậy, nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu thống kê của Cơ quan thống kê quốc gia, năm 2010 có 71,7% người lao động (từ 15 tuổi trở lên) trong khu vực nông thôn[2]; đến năm 2024, có 61,47% lao động trong khu vực nông thôn (do sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp).
Tuy nhiên, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X nhận định “nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”.
Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương tình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Kết thúc giai đoạn này, bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc và để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, ngày 22/02/2022 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
Mục tiêu của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn Việt Nam hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu; nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của người dân; xây dựng người nông dân văn minh, nâng cao chất lượng sống, an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, tạo nền tảng cho đất nước phát triển bao trùm và bền vững. 
Kết quả sau 15 năm xây dựng nông thôn mới, theo báo cáo tổng kết của Chính phủ, nhiều mục tiêu cơ bản đã đạt được. Tính đến hết tháng 6/2025, cả nước có 79,3% số xã, 51% số huyện và 13 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Kết quả thực hiện các mục tiêu xây dựng NTM[3]
TT Nội dung Mục tiêu đến năm 2025 Kết quả đến hết tháng 6/2025 So với mục tiêu đến hết 2025
1 Số tỉnh được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM 17-19 13 Đạt 86,7%
2 Số đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn NTM 50% 329[4] Đạt 51%
3 Tỷ lệ huyện đạt chuẩn NTM nâng cao 20% 20% Đạt mục tiêu
4 Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM 80% 79,3% Cơ bản đạt
5 Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM nâng cao 40% 42,2% Vượt mục tiêu
6 Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu 10% 12,2% Vượt mục tiêu
7 Mức tăng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn so với năm 2020 1,5 lần Ước 2025 tăng 1,4 lần Đạt 93,3%
 
 
Tiêu chí “tiếp cận pháp luật” là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới của địa phương, nhằm bảo đảm quyền được tiếp cận pháp luật của người dân, giúp người dân có đầy đủ điều kiện cần thiết để nắm được văn bản, chính sách của trung ương và địa phương. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện công khai, minh bạch, đồng thời là điều kiện để người dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và xây dựng ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật trong cộng đồng. Tiêu chí “tiếp cận pháp luật” được đưa vào Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới kể từ năm 2022[5].
Kết quả đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật
Theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, hàng năm có trên 95% đơn vị cấp xã trên cả nước được công nhận đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Số đơn vị cấp xã không đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chủ yếu do vi phạm điều kiện công nhận theo quy định, tập trung vào các trường hợp có cán bộ, công chức là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp xã bị xử lý kỷ luật hành chính có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành công vụ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự[6].
BỐI CẢNH HIỆN NAY ĐẶT RA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG TIÊU CHÍ TIẾP CẬN PHÁP LUẬT TRONG BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ XÃ NÔNG THÔN MỚI
Sau 15 năm triển khai, Chương trình mục tiêu Quốc gia nông thôn mới đã tạo nên sự chuyển biến, thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, Chương trình đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, hoàn thiện hệ thống hạ tầng thiết yếu, thu hẹp khoảng cách nông thôn với thành thị, nâng cao toàn diện đời sống của người dân cả về vật chất và tinh thần.
Tuy nhiên, nông thôn mới ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, chưa theo kịp các nước trên thế giới (việc xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi còn hạn chế). Về mặt kinh tế, việc chuyển dịch từ nền nông nghiệp cổ truyền sang nền nông nghiệp hàng hóa còn chậm (do hệ thống thương mại, logistics còn yếu, chưa đồng bộ, chưa công nghiệp hóa, hiện đại hóa); hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng; thị trường đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp còn gặp khó khăn (do quy mô sản xuất còn nhỏ, chưa ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số, công nghệ thông minh; sử dụng tài nguyên chưa hiệu quả…). Về mặt đời sống tinh thần, năng lực tiếp cận pháp luật của người dân còn hạn chế, thụ động (chỉ quan tâm đến pháp luật khi bản thân phát sinh sự kiện pháp lý); chính quyền cơ sở thực hiện các tiêu chí đánh giá “tiếp cận pháp luật” còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, chưa gắn với đặc trưng của nhà nước pháp quyền.
Trong khi đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu đến năm 2030 “Nông dân có trình độ, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao, làm chủ quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, quy mô sản xuất hàng hoá nông sản ngày càng lớn, bảo đảm môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nông thôn phát triển toàn diện, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, môi trường sống an toàn, lành mạnh, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững”. Đến năm 2045 “Nông dân và cư dân nông thôn văn minh, phát triển toàn diện, có thu nhập cao. Nông nghiệp sinh thái, sản xuất hàng hoá quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ với thị trường trong và ngoài nước, công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản hiện đại, xuất khẩu nhiều loại nông sản đứng hàng đầu thế giới. Nông thôn hiện đại, có điều kiện sống tiệm cận với đô thị, môi trường sống xanh, sạch, đẹp, giàu bản sắc văn hoá dân tộc”. Để đạt mục tiêu này, nhiệm vụ đầu tiên mà Nghị quyết số 19-NQ/TW đề ra là “Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, đào tạo để nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ, học vấn cho nông dân” và “Bảo đảm quyền làm chủ của nông dân và cư dân nông thôn theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Phát huy tinh thần đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, tương thân, tương ái”. Đây chính là nhiệm vụ bảo đảm quyền “tiếp cận pháp luật” của người dân.
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NỘI DUNG TIÊU CHÍ TIẾP CẬN PHÁP LUẬT TRONG BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ XÃ NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN MỚI (2026-2030)
Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đâì tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Ngày 29/12/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg quy định Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Tiêu chí “tiếp cận pháp luật” tiếp tục được xác định là một trong những tiêu chí quan trọng trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 (tiêu chí số 10, nội dung tiêu chí 10.1 – Phụ lục I).
Để hướng dẫn tiêu chí “tiếp cận pháp luật” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, tác giả nhận thấy nông dân ngày nay cần được tiếp cận mọi thông tin pháp luật, không chỉ giới hạn (i) văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương và trung ương ban hành, mà còn cần được (ii) tiếp cận với các thông tin liên quan đến pháp luật (như văn bản hướng dẫn, quá trình thi hành, những vấn đề đã xảy ra liên quan đến thi hành pháp luật…); (iii) tiếp cận với thông tin pháp luật quốc tế (bao gồm văn bản quy phạm pháp luật và các vấn đề liên quan đến việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật).
Do đó, đề xuất việc đánh giá tiêu chí xã “đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” để công nhận xã nông thôn mới cần đánh giá trên hai tiêu chí cơ bản sau:
Tiêu chí thứ nhất: Những nhiệm vụ chính quyền phải thực hiện để bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật cho người dân
Hiện nay, thực hiện chủ trương tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và tăng cường phân cấp mạnh mẽ với phương châm địa phương làm chủ “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” và để bảo đảm tối đa quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì mọi hoạt động của các cấp chính quyền phải lấy người dân là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. Do đó đối với việc bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật cho người dân, chính quyền cấp xã cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là, chú trọng nâng cao trình độ, học vấn cho người dân. Bảo đảm mọi trẻ em trong độ tuổi đi học phải được đến trường. Trình độ dân trí là yếu tố then chốt để xây dựng và phát triển địa phương, đất nước giàu mạnh.
Hai là, văn bản pháp luật được ban hành với chất lượng cao, hiện đại, phù hợp thực tiễn của địa phương và xu hướng phát triển của đất nước. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 87/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội thì chính quyền cấp xã được ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã và Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã).
Ba là, tổ chức thông tin, tuyên truyền có hiệu quả quy định pháp luật. UBND xã cần ban hành Kế hoạch thông tin, truyền thông văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thực hiện của trung ương và địa phương; công khai các văn bản pháp luật và các thông tin người dân được quyền tiếp cận bằng hình thức phù hợp (đặc biệt cung cấp thông tin trên môi trường số); cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân
Bốn là, bảo đảm công khai minh bạch mọi chủ trương, chính sách của trung ương và địa phương. Việc công khai, minh bạch nhằm giúp người dân thực hiện có hiệu quả chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" đã được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời đây cũng là giải pháp quan trọng để cải thiện năng lực của chính quyền cấp xã.
Năm là, thực hiện truyền thông các văn bản pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế (bao gồm các Công ước, hiệp định, thỏa thuận, bản ghi nhớ mà Việt Nam tham gia) liên quan đến quyền con người, quyền công dân; hợp tác phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục, công nghệ, y tế… để người dân tiệm cận với thông tin pháp luật quốc tế phục vụ mục đích cá nhân, giao lưu hoặc phát triển kinh tế, giao thương với các cá nhân, doanh nghiệp nước ngoài.
Thứ sáu, có những giải pháp chuyển dần từng bước nâng cao khả năng tự tìm hiểu pháp luật của người dân (chuyển từ việc người dân bị động nghe thông tin pháp luật sang chủ động tìm hiểu pháp luật để phục vụ các giao dịch, mối quan hệ trong đời sống hàng ngày); xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trên địa bàn.
Tiêu chí thứ hai: Những điều kiện cần thiết của chính quyền để bảo đảm thực hiện tốt tiêu chí thứ nhất
          Để thực hiện tốt những nhiệm vụ mà chính quyền cấp xã phải triển khai nhằm bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân, thì chính quyền cấp xã phải đầu tư nguồn lực, công nghệ thông tin bảo đảm cho các hoạt động phục vụ quyền tiếp cận pháp luật của người dân. Bao gồm
          Thứ nhất, Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị thực hiện thông tin, truyền thông pháp luật dưới các hình thức phù hợp với đặc điềm dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và phong tục tập quán trên địa bàn với mục tiêu mang lại hiệu quả truyền thông cao nhất, người dân dễ tiếp thu, thẩm thấu nhất.
          Thứ hai, Bảo đảm nguồn nhân lực tham mưu thực hiện công tác tiếp cận pháp luật. Chính quyền cấp xã phải bố trí nguồn lực (lãnh đạo và chuyên viên) có chuyên môn, có năng lực tham mưu tổ chức triển khai công tác tiếp cận pháp luật trên địa bàn toàn diện, có chiều sâu, gắn với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người quyền công dân.
          Thứ ba, đầu tư cho chuyển đổi số trong việc truyền thông chính sách đến người dân. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin như hiện nay, việc chuyển đổi số vô cùng cần thiết và cấp bách nhằm phát huy tối đa lợi ích của công nghệ này. Người dân được tiếp cận pháp luật mọi lúc, mọi nơi phù hợp với đời sống cá nhân họ./.
Nguyễn Thị Quế
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
         
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
3. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương tình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
4. Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
5. Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025.
6. Báo cáo số 736/BC-CP ngày 29/8/2025 của Chính phủ tổng kết 05 năm triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025.
 

[1] Xem Cổng Thông tin điện tử Chính phủ https://chinhphu.vn/dia-ly-68387
[2] Xem Cổng Thông tin điện tử Cục Thống kê – Bộ Tài chính https://www.nso.gov.vn/px-web-2/?pxid=V0235&theme=D%C3%A2n%20s%E1%BB%91%20v%C3%A0%20lao%20%C4%91%E1%BB%99ng
[3] Nguồn: Phụ lục 3 Báo cáo số 736/BC-CP ngày 29/8/2025 của Chính phủ tổng kết 05 năm triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025
 
[4] 329 huyện/646 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM.
[5] Theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025. Được hướng dẫn tại Quyết định số 1723/QĐ-BTP ngày 15/8/2022 của Bộ Tư pháp ban hành hướng dẫn tiêu chí huyện đạt chuẩn tiếp cận pháp luật thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về huyện nông thôn mới, tiêu chí tiếp cận pháp luật thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 và tiêu chí quận, thị xã, thành phố đạt chuẩn tiếp cận pháp lauajt thuộc tiêu chhis quận, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh đạt chuẩn đô thị văn minh.
[6] Báo cáo số 344/BC-BTP ngày 30/6/2025.

Xem thêm »