PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CỘNG TÁC VIÊN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP, XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

18/12/2025
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị góp ý dự thảo Luật trợ giúp pháp lý sửa đổi, ngày 25/11/2025

1. Đặt vấn đề   
Cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta. Một trong những nội dung cốt lõi của công tác này là bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật của người dân. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” , Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. [1]
Trợ giúp pháp lý là một chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giữ vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa các quyền này. Trải qua gần 3 thập kỷ phát triển, hệ thống trợ giúp pháp lý Việt Nam từng bước được củng cố, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhất là người nghèo, người “yếu thế” trong xã hội để bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”. Bên cạnh đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý và luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý là lực lượng trực tiếp tham gia vào công tác trợ giúp pháp lý, góp phần đưa pháp luật đến với người dân ở cơ sở, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý.
Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết 27 NQ/TW[1], việc tiếp tục phát huy vai trò và sử dụng hiệu quả đội ngũ cộng tác viên TGPL là một yêu cầu tất yếu, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận TGPL cho người dân ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
2. Chế định cộng tác viên trong luật trợ giúp pháp lý Việt Nam
 Chế định cộng tác viên trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006
Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006[1] thì công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý và không thuộc trường hợp không được tham gia trợ giúp pháp lý[2] được xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên; bao gồm các trường hợp sau:
  1. Người có bằng cử nhân luật hoặc có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
  2. Người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng;
  3. Luật sư, Tư vấn viên pháp luật.
Như vậy, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định diện người có thể được làm cộng tác viên TGPL khá rộng và cơ cấu rất đa dạng; có thể gộp thành 02 nhóm chính sau đây: (i) Nhóm thứ nhất gồm luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý; (ii) Nhóm thứ hai gồm nhiều diện người tại các ngành, lĩnh vực khác, kể cả những người có uy tín trong cộng đồng.[3]
Về hình thức trợ giúp pháp lý: Luật trợ giúp pháp lý 2006 cho phép cộng tác viên TGPL là luật sư được thực hiện tất cả các hình thức trợ giúp pháp lý như: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác (như hoà giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại,..).[4] Tuy nhiên, cộng tác viên TGPL không phải là luật sư chỉ được tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật.[5]
Tuy vậy, thực tiễn 8 năm thực hiện Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 cho thấy, mặc dù số lượng người đăng ký tham gia làm cộng tác viên khá nhiều nhưng rất ít người tham gia thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý và hiệu quả hoạt động mang lại không cao.[6]
Chế định cộng tác viên trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định diện người có thể làm cộng tác viên TGPL bao gồm “Những người đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý, bao gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước” và chỉ ở “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn…”.[7]
Như vậy, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã phân tách người thực hiện trợ giúp pháp lý thành các nhóm riêng biệt, đồng thời bóc tách nhóm luật sư, tư vấn viên pháp luật ra khỏi nhóm cộng tác viên TGPL. Nghiên cứu quy định cộng tác viên TGPL trong Luật Trợ giúp pháp lý 2017 thì thấy rằng, có sự thu hẹp đáng kể cả về diện người, địa bàn hoạt động và hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý. Theo đó, hiện tại chỉ một số nhóm người “đã nghỉ hưu” như thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, có trình độ, kinh nghiệm nghề nghiệp chuyên môn pháp luật ở một số địa bàn nhất định mới có thể trở thành cộng tác viên TGPL.
Về hình thức trợ giúp pháp lý: theo quy đinh của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, cộng tác viên TGPL được thực hiện tư vấn pháp luật cho người thuộc diện trợ giúp pháp lý. Ở góc độ nhất định, quy định này cũng tương đồng với quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 đối với nhóm cộng tác viên không phải là luật sư.
Thực tiễn 8 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cho thấy, số lượng cộng tác viên TGPL hiện nay rất ít. Tính đến tháng 12/2024, cả nước có 22 cộng tác viên TGPL; số vụ việc trợ giúp pháp lý do cộng tác viên TGPL thực hiện cũng rất ít.[8]
3. Vai trò của cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Hơn 2 thập kỷ qua, chế định cộng tác viên TGPL đã được ghi nhận trong các văn bản luật về trợ giúp pháp lý (từ Luật Trợ giúp pháp lý 2006 đến Luật trợ giúp pháp lý 2017) và các văn bản có liên quan, đã thể hiện sự nhất quán và tiến bộ trong chính sách, pháp luật của Nhà nước về thu hút nguồn lực xã hội tham gia công tác trợ giúp pháp lý. Đây không chỉ là cơ sở pháp lý quan trọng mà còn tạo nền tảng vững chắc cho việc củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên, qua đó góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, không ít người dân, trong đó có cả người thuộc diện được TGPL, gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật và các dịch vụ công. Cộng tác viên TGPL, với lợi thế gần dân, am hiểu phong tục, tập quán và ngôn ngữ địa phương, đóng vai trò là cầu nối giữa Nhà nước và người dân, đưa pháp luật đến với người dân, góp phần hiện thực hóa chính sách trợ giúp pháp lý của Nhà nước, nâng cao tính kịp thời, linh hoạt và phù hợp thực tiễn; giảm tải cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, khắc phục tình trạng thiếu nguồn lực trợ giúp viên pháp lý chuyên trách của nhà nước.
Bên cạnh đó, cộng tác viên TGPL có thể tham gia vào nhiều hoạt động TGPL như truyền thông về pháp luật và TGPL; cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, hòa giải, hỗ trợ xác minh, thu thập thông tin, tài liệu; hướng dẫn, giải thích về TGPL; thực hiện thông báo, thông tin về người được TGPL cho các tổ chức thực hiện TGPL tại địa phương… Sự tham gia của cộng tác viên TGPL góp phần giúp người dân hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, từ đó chủ động yêu cầu TGPL khi cần thiết, đồng thời, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, từ đó hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài và vi phạm pháp luật phát sinh từ sự thiếu hiểu biết. Đây là vai trò mang tính bền vững, phù hợp với định hướng lấy phòng ngừa là chính trong quản lý nhà nước về pháp luật.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, cộng tác viên TGPL là lực lượng cơ sở, có thể kịp thời hỗ trợ người dân tiếp cận các hình thức TGPL mới như tư vấn trực tuyến, tiếp nhận yêu cầu TGPL qua môi trường số, khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật, sử dụng các nền tảng công nghệ để kết nối với Trung tâm TGPL... Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người dân ở vùng sâu, vùng xa và các nhóm yếu thế còn hạn chế về kỹ năng số.
4. Một số hạn chế, bất cập của cộng tác viên trợ giúp pháp lý hiện nay
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của đội ngũ cộng tác viên TGPL cũng bộc lộ một số khó khăn, hạn chế như: số lượng cộng tác viên TGPL ít[9]; số vụ việc trợ giúp pháp lý do cộng tác viên TGPL thực hiện trong thời gian gần đây càng ít; trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp chưa đồng đều, một số người chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hiện nay. Cùng với đó, cơ chế đãi ngộ, khuyến khích còn hạn chế; công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ chưa được thực hiện thường xuyên. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động trợ giúp pháp lý ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.... Những hạn chế này ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả và vai trò của cộng tác viên TGPL trong công tác trợ giúp pháp lý.
Những hạn chế nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, từ góc độ nghiên cứu thì thấy rằng quy định cộng tác viên TGPL trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chưa thật sự phù hợp với thực tiễn hiện nay: diện người có thể làm cộng tác viên TGPL đang “đóng khung” ở một số chức danh như thẩm phán, kiểm sát viên…“đã nghỉ hưu”; đồng thời lại bị bó hẹp chỉ ở địa bàn vùng xa, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn; hình thức trợ giúp pháp lý chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật… Thêm vào đó, quy định về chế độ khuyến khích còn hạn chế, chưa thu hút được các nguồn lực xã hội có trình độ chuyên môn tham gia trợ giúp pháp lý. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin ở cơ sở, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn nhiều hạn chế, gây khó khăn cho việc tiếp cận, triển khai và ứng dụng các hình thức trợ giúp pháp lý hiện đại. Nhận thức của một số cơ quan và người dân về vai trò của cộng tác viên trợ giúp pháp lý chưa đầy đủ cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc phối hợp và hiệu quả hoạt động của lực lượng này.
 
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phối hợp với Tạp chỉ Dân chủ và Pháp luật tổ chức tọa đàm khoa học về “Tăng cường nguồn lực cho công tác trợ giúp pháp lý” ngày 04/11/2025

5. Một số đề xuất nâng cao vai trò, năng lực của cộng tác viên trợ giúp pháp lý
 Thực hiện các chủ trương, đường lối mới của Đảng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, để nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên TGPL trong kỷ nguyên mới, cần triển khai đồng bộ một số đề xuất giải pháp sau:
Thứ nhất, rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý, trước hết là Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 về cộng tác viên TGPL theo hướng mở rộng đối tượng được làm cộng tác viên TGPL. Theo đó, không nên tiếp tục giới hạn lực lượng này ở một số chức danh tư pháp “đã nghỉ hưu” mà cần có cơ chế thu hút cả các viên chức là chuyên gia pháp lý, giảng viên luật, cán bộ pháp chế, người có uy tín và am hiểu pháp luật ở cơ sở. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động của cộng tác viên TGPL, không nên chỉ bó hẹp ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn mà có thể triển khai ở các địa phương khác miễn là phù hợp với thực tiễn nhu cầu TGPL tại địa phương.
Cùng với đó, cần nghiên cứu mở rộng các hình thức TGPL do cộng tác viên thực hiện. Theo hướng này thì hoạt động của cộng tác viên TGPL không chỉ dừng lại ở tư vấn pháp luật mà từng bước tham gia vào các hình thức TGPL khác như tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng, phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. Để có thể đảm đương được nhiệm vụ này, cần sửa đổi các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ của cộng tác viên TGPL cho phù hợp với tính chất, yêu cầu của công việc.
 Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cộng tác viên TGPL. Trong đó, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng TGPL trong môi trường số. Lưu ý, đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với thực tiễn và bám sát nhu cầu của từng địa phương, từng nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý để đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp và chuyển đổi số trong thời gian tới.
Thứ ba, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cơ chế khuyến khích phù hợp, (chẳng hạn như hỗ trợ kinh phí, chính sách miễn giảm thuế, cơ chế ghi nhận tôn vinh những cá nhân có nhiều đóng góp…) nhằm thu hút cộng tác viên TGPL có năng lực, trình độ chuyên môn và tâm huyết tham gia công tác TGPL.
Ví dụ, hiện nay quy định về mức thù lao vụ việc TGPL theo hình thức tư vấn pháp luật khá thấp, chưa tương xứng với tính chất, yêu cầu đặc biệt của loại hình dịch vụ công thiết yếu này. Cụ thể, theo Nghị định 144/2018/NĐ-CP, cộng tác viên thực hiện vụ việc tư vấn pháp luật được hưởng mức thù lao từ 0,08 - 0,15 mức lương cơ sở cho mỗi văn bản tư vấn pháp luật, tùy tính chất phức tạp và nội dung của vụ việc.[1] Vì vậy trên thực tế, cho dù vụ việc có phức tạp đến đâu thì mức thù lao tối đa cũng chỉ dừng ở 0,15 mức lương cơ sở cho 01 văn bản tư vấn pháp luật. Quy định này không thật sự phù hợp với thực tiễn hiện nay, khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tăng nhanh trong thời gian qua, chỉ số trượt giá lớn và mặt bằng giá cả dịch vụ pháp lý có thu phí trên thị trường đang ở mức tương đối cao.[2]
Thứ tư, cần quan tâm đầu tư, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho hoạt động trợ giúp pháp lý, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đó, cần từng bước nâng cấp hệ thống kết nối thông tin giữa Trung tâm TGPL nhà nước với cộng tác viên TGPL; đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng số, phần mềm quản lý vụ việc TGPL, tư vấn pháp luật trực tuyến, cơ sở dữ liệu pháp luật dùng chung, trang bị phương tiện làm việc lưu động…, để cộng tác viên có điều kiện tiếp cận nhanh thông tin, cung cấp dịch vụ TGPL kịp thời, hiệu quả hơn.
Thứ năm, tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về vị trí, vai trò của cộng tác viên TGPL trong hệ thống trợ giúp pháp lý. Cần khẳng định rõ cộng tác viên TGPL là “cánh tay nối dài” của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, nhất là nhóm yếu thế; qua đó nâng cao trách nhiệm phối hợp của chính quyền cơ sở, các cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức chính trị – xã hội trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện để cộng tác viên TGPL thực hiện nhiệm vụ.
 Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá và sử dụng cộng tác viên TGPL theo hướng thực chất, hiệu quả. Việc ký kết, gia hạn hợp đồng thực hiện TGPL với cộng tác viên cần gắn với kết quả, chất lượng vụ việc TGPL; đồng thời xây dựng cơ chế sàng lọc hợp lý, khen thưởng kịp thời đối với những cộng tác viên có nhiều thành tích đóng góp; có biện pháp xử lý phù hợp những trường hợp hoạt động mang tính hình thức, kém hiệu quả hoặc vi phạm pháp luật.
 
Tóm lại, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay, đội ngũ cộng tác viên TGPL ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, nhất là các nhóm yếu thế. Việc nâng cao vai trò, năng lực của cộng tác viên TGPL không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác trợ giúp pháp lý mà còn là một trong những giải pháp thiết thực góp phần hiện thực hóa các mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên mới./.
 Vũ Thị Hường
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 
Tài liệu tham khảo
  1. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
  2. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
  3. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
  4. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
  5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  6. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
  7. Nghị định 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật trợ giúp pháp lý. 
  8. Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Tư pháp về tổng kết 8 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý năm 2006.
  9. Báo cáo số 103 /BC-UBTVQH14 ngày 05/5/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sửa đổi Luật trợ giúp pháp lý năm 2006.
  10.  Báo cáo số 704/BC-BTP ngày 25/11/2025 về tổng kết thi hành Luật Trợ giúp pháp lý.
 

[1] Khoản 4 Điều 13 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP
[2] Trung bình một vụ việc tư vấn pháp luật do luật sư thực hiện khoảng 500.000 đồng/giờ
 
 

[1] Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006.
[2] Các trường hợp không không được tham gia trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, ví dụ như: người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực…
[3] Theo Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 30/6/2016 của Bộ Tư pháp về tổng kết 8 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 cho biết tính đến tháng 12/2005, cả nước có 11.871 cộng tác viên TGPL.
[4] Điều 24, 28, 29, 30 Luật Trợ giúp pháp lý năn 2006
[5] Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý năn 2006
[6] Báo cáo số 103 /BC-UBTVQH14 ngày 05/5/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sửa đổi Luật trợ giúp pháp lý năm 2006.
[7] Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017
[8] Báo cáo số 704/BC-BTP ngày 25/11/2025 của Bộ Tư pháp cho thấy, tính đến tháng 12/2024, cả nước có 22 cộng tác viên TGPL
[9] Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, hiện tại chỉ có 22 cộng tác viên TGPL

[1] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[1] Khoản 1 Điều 16 và Điều 3 Hiến pháp năm 2013.

Xem thêm »