Ngày 26/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Đây là một trong những văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy ở cơ sở theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Mặc dù không trực tiếp điều chỉnh hoạt động hòa giải ở cơ sở, nhưng với việc tác động đến mô hình tổ chức thôn, tổ dân phố và đội ngũ cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cộng đồng dân cư, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP đang tạo ra những ảnh hưởng đối với việc tổ chức, vận hành các tổ hòa giải và đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong giai đoạn mới.
1. Tác động của việc sắp xếp thôn, tổ dân phố đối với tổ chức, hoạt động hoà giải ở cơ sở
1.1. Tính thích ứng của pháp luật hòa giải ở cơ sở trước yêu cầu sắp xếp thôn, tổ dân phố mới
Một trong những vấn đề được quan tâm khi thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố là liệu các tổ hòa giải hiện có có phải tổ chức lại hay không?
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã dự liệu mô hình và cơ chế tổ chức hoà giải ở cơ sở tương đối linh hoạt. Khoản 2 Điều 12 Luật quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải và số lượng hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng bởi pháp luật hiện hành không mặc nhiên đồng nhất một thôn hoặc tổ dân phố với một tổ hòa giải. Việc thành lập bao nhiêu tổ hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của địa phương. Đây chính là thuận lợi lớn khi triển khai Nghị định số 185/2026/NĐ-CP. Khi các thôn, tổ dân phố được sáp nhập hoặc điều chỉnh quy mô, chính quyền cấp xã có thể chủ động rà soát, kiện toàn lại hệ thống tổ hòa giải mà không cần chờ sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở. Ví dụ, tại những địa bàn sau sáp nhập có quy mô dân số lớn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể quyết định duy trì nhiều tổ hòa giải trong cùng một thôn hoặc tổ dân phố để bảo đảm khả năng tiếp cận người dân. Ngược lại, đối với những địa bàn có ít tranh chấp, số lượng dân cư không lớn, việc hợp nhất các tổ hòa giải có thể giúp tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Có thể nói, cơ chế được thiết kế tại Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở đã tạo ra dư địa pháp lý khá rộng để thích ứng với quá trình sắp xếp đơn vị dân cư hiện nay.
1.2. Những thách thức mới phát sinh từ quy mô cộng đồng dân cư ngày càng lớn
Việc pháp luật cho phép linh hoạt về số lượng tổ hòa giải không đồng nghĩa với việc không phát sinh khó khăn, vướng mắc. Sau khi sắp xếp thôn, tổ dân phố theo Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, nhiều địa bàn có quy mô dân số lớn hơn đáng kể so với trước đây
[1]. Địa bàn quản lý rộng hơn, số hộ dân tăng lên khiến các mối quan hệ xã hội trở nên đa dạng, đan xen phức tạp. Trong điều kiện đó, nếu địa phương chỉ thực hiện sáp nhập cơ học các tổ hòa giải hiện có mà không đánh giá lại nhu cầu thực tế thì nguy cơ quá tải là hoàn toàn có thể xảy ra. Một tổ hòa giải phải phụ trách địa bàn quá rộng sẽ gặp khó khăn trong việc nắm bắt tình hình dân cư, tiếp cận kịp thời các mâu thuẫn phát sinh và và làm phai nhạt đi lợi thế cốt lõi của hòa giải cơ sở là sự gần gũi, hiểu rõ hoàn cảnh của từng người dân.
Luật Hòa giải ở cơ sở hiện nay chưa có các tiêu chí hoặc định hướng cụ thể để xác định số lượng tổ hòa giải tương ứng với quy mô dân số, diện tích địa bàn hoặc số lượng và tính chất vụ việc phát sinh. Điều này dẫn đến khả năng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau, dẫn đến thiếu sự thống nhất trong tổ chức thực hiện và có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Bên cạnh đó, việc rà soát, kiện toàn tổ hòa giải theo khoản 3 Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở hiện được thực hiện định kỳ hằng năm. Trong bối cảnh quá trình sắp xếp tổ chức dân cư diễn ra nhanh và trên diện rộng, cơ chế rà soát định kỳ có thể chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tiễn nếu nếu các cơ quan quản lý không kịp thời ban hành các hướng dẫn chuyển tiếp phù hợp.
Một thách thức khác không thể không nhắc đến là thực hiện thủ tục bầu hoà giải viên trong bối cảnh quy mô thôn, tổ dân dân phố lớn. Theo quy định, việc bầu hòa giải viên bắt buộc phải thông qua cuộc họp đại diện hộ gia đình hoặc phát phiếu lấy ý kiến. Đối với các thôn, tổ dân phố sau sáp nhập với quy mô lên tới hàng nghìn hộ dân, việc triệu tập đông đủ đại diện các gia đình đi họp biểu quyết là điều gần như bất khả thi trong thực tế. Trong khi đó, giải pháp phát phiếu lấy ý kiến với số lượng hộ gia đình lớn lại tốn kém thời gian và chi phí tổ chức. Điều này gây khó khăn cho việc kiện toàn hoà giải viên và đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, đơn giản hóa quy trình bầu hòa giải viên theo hướng đa dạng hóa hình thức biểu quyết bầu hoà giải viên, bổ sung các hình thức chỉ định hoà giải viên trong những trường hợp nhất định.
1.3. Chính sách mới đối với người hoạt động không chuyên trách mở ra cơ hội nâng cao chất lượng hòa giải viên
Thực tiễn cho thấy nhiều hòa giải viên hiện nay đồng thời đảm nhiệm các chức danh quan trọng ở cộng đồng dân cư như Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hoặc Trưởng ban công tác Mặt trận. Đây là những người thường xuyên tiếp xúc với người dân, nắm bắt kịp thời tình hình địa bàn, có uy tín trong cộng đồng và có khả năng vận động, thuyết phục các bên giải quyết mâu thuẫn trên cơ sở tình làng, nghĩa xóm và sự đồng thuận. Chính vì vậy, chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở trong nhiều trường hợp phụ thuộc không chỉ vào kiến thức pháp luật mà còn gắn chặt với uy tín xã hội, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng tập hợp quần chúng của đội ngũ này.
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP đã hoàn thiện chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo hướng bảo đảm tốt hơn điều kiện hoạt động và tạo động lực để đội ngũ này yên tâm gắn bó với công việc. Mặc dù hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính tự nguyện, không phải là nhiệm vụ chuyên trách, nhưng trên thực tế, việc nhiều hòa giải viên đồng thời là người hoạt động không chuyên trách khiến chính sách đối với nhóm đối tượng này có tác động gián tiếp nhưng rất đáng kể đến chất lượng công tác hòa giải. Khi điều kiện hoạt động được cải thiện, họ có thể dành nhiều thời gian, điều kiện và động lực để tham gia hoà giải, chủ động nắm bắt mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng, tăng cường gặp gỡ, vận động các bên và theo sát quá trình giải quyết vụ việc.
Mặt khác, trong bối cảnh nhiều địa phương đang thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố, quy mô cộng đồng dân cư ngày càng lớn, tính chất các quan hệ xã hội cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Điều này đòi hỏi hòa giải viên không chỉ có uy tín mà còn phải có năng lực điều phối, khả năng kết nối với các tổ chức ở cơ sở và xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh. Việc hoàn thiện chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách sẽ góp phần duy trì và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt này trong tổ chức tự quản ở cộng đồng, qua đó tạo nền tảng để nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
2. Một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác hoà giải ở cơ sở trong bối cảnh sắp xếp thôn, tổ dân phố
Từ tác động của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP có thể thấy rằng vấn đề không nằm ở việc mô hình tổ hòa giải hiện hành thiếu cơ sở pháp lý để thích ứng với việc sắp xếp thôn, tổ dân phố. Ngược lại, các quy định của Luật Hoà giải ở cơ sở hiện hành, đặc biệt là Điều 12 đã đã tạo ra mức độ linh hoạt nhất định để địa phương chủ động tổ chức tổ hòa giải phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên, khi quy mô cộng đồng dân cư, phương thức, yêu cầu quản trị ở cơ sở đều thay đổi, sự linh hoạt này cần được hỗ trợ bằng các hướng dẫn cụ thể hơn nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.
Thứ nhất, cần nghiên cứu xây dựng các tiêu chí tham khảo về số lượng tổ hòa giải và hòa giải viên phù hợp với đặc điểm từng địa bàn. Luật hiện hành trao quyền quyết định cho Chủ tịch UBND cấp xã nhưng chưa có căn cứ chuyên môn để địa phương cân nhắc việc bố trí tổ hòa giải. Các tiêu chí này không nên mang tính cứng nhắc mà chỉ đóng vai trò là cơ sở định hướng, được xây dựng trên các yếu tố như quy mô dân số, số hộ gia đình, diện tích địa bàn, điều kiện giao thông, đặc điểm dân cư, tình hình an ninh trật tự và số lượng và tính chất vụ việc hòa giải phát sinh hằng năm. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm quyền chủ động của địa phương, vừa hạn chế sự chênh lệch quá lớn về năng lực tổ chức hòa giải giữa các địa phương.
Thứ hai, cần hoàn thiện các quy định về lựa chọn hoà gải viên theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện tổ chức của thôn, tổ dân phố sau sắp xếp. Khi quy mô thôn, tổ dân phố ngày càng lớn, việc tổ chức bầu hòa giải viên theo phương thức truyền thống sẽ phát sinh nhiều khó khăn về thời gian, chi phí và khả năng huy động sự tham gia của người dân. Vì vậy, cần đa dạng hóa hình thức bầu hòa giải viên, đồng thời bổ sung cơ chế Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định hòa giải viên trong những trường hợp đã tổ chức bầu nhưng không đạt kết quả hoặc không thể tổ chức bầu do các nguyên nhân khách quan. Việc bổ sung cơ chế này không nhằm thay thế nguyên tắc dân chủ trong lựa chọn hòa giải viên mà là giải pháp bảo đảm tính liên tục của hoạt động hòa giải, tránh tình trạng địa bàn không có hòa giải viên hoặc kéo dài thời gian kiện toàn tổ hòa giải.
Thứ ba, cần chuyển mạnh từ việc chú trọng số lượng hòa giải viên sang nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ này. Sau khi sắp xếp thôn, tổ dân phố, mỗi hòa giải viên có thể phải phụ trách địa bàn rộng hơn, giải quyết nhiều loại mâu thuẫn phức tạp hơn và phối hợp với nhiều chủ thể hơn trước. Vì vậy, nội dung bồi dưỡng cần được đổi mới theo hướng tăng cường kỹ năng phân tích, xử lý các tranh chấp mới, kỹ năng vận động, đối thoại, sử dụng công nghệ thông tin và khai thác các nguồn thông tin pháp luật phục vụ hoạt động hòa giải. Đây sẽ là yếu tố quyết định chất lượng hòa giải trong điều kiện quy mô cộng đồng dân cư ngày càng mở rộng.
Thứ tư, cần nghiên cứu tăng cường cơ chế phối hợp giữa tổ hòa giải với chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhằm bảo đảm khả năng phát hiện sớm, xử lý kịp thời các mâu thuẫn phát sinh tại cộng đồng. Trong bối cảnh địa bàn quản lý lớn hơn, nếu chỉ chờ đến khi tranh chấp phát sinh mới tiến hành hòa giải thì hiệu quả sẽ giảm đáng kể. Do đó, tổ hòa giải cần được đặt trong cơ chế phối hợp thường xuyên với các lực lượng ở cơ sở để kịp thời nắm bắt thông tin, chủ động tham gia giải quyết ngay từ khi mâu thuẫn mới hình thành, qua đó phát huy đúng vai trò phòng ngừa của hòa giải ở cơ sở.
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP không tạo ra sự xáo trộn căn bản đối với mô hình tổ chức tổ hòa giải ở cơ sở bởi Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành đã thiết kế cơ chế tổ chức tương đối linh hoạt. Đây chính là một thuận lợi lớn giúp hệ thống hòa giải ở cơ sở có khả năng thích ứng với quá trình sắp xếp thôn, tổ dân phố. Tuy nhiên, sự thay đổi về quy mô cộng đồng dân cư và yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị ở cơ sở đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở. Vì vậy, cùng với việc triển khai Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định hướng dẫn và cơ chế tổ chức thực hiện nhằm phát huy tối đa vai trò của hòa giải ở cơ sở trong việc giữ gìn ổn định xã hội, tăng cường đồng thuận cộng đồng và xây dựng nền quản trị cơ sở hiện đại, hiệu quả./.