Tại Việt Nam, việc bảo đảm quyền được TGPL không chỉ là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước trong việc hỗ trợ, bảo vệ người dân mà còn là một trong những biện pháp nhằm thực thi các cam kết quốc tế, trong đó có Công ước ICCPR và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đối với Báo cáo quốc gia lần thứ tư của Việt Nam về thực hiện Công ước. Trong thời gian qua, công tác TGPL tại Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần thực hiện hiệu quả Quyết định số 2715/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ quyền dân sự, chính trị và quyền con người cho nhân dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.
Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu pháp luật, bài viết làm rõ các chuẩn mực quốc tế và cơ sở pháp lý bảo đảm quyền được TGPL tại Việt Nam; đồng thời đánh giá lộ trình, kết quả triển khai trong các lĩnh vực trọng tâm, qua đó khẳng định vai trò của TGPL trong bảo vệ quyền con người và thúc đẩy khả năng tiếp cận công lý một cách bình đẳng, kịp thời và thực chất.
1. QUYỀN ĐƯỢC TGPL VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC TGPL TẠI VIỆT NAM
1.1. Quyền được TGPL theo chuẩn mực quốc tế
Công ước ICCPR là một trong những điều ước quốc tế quan trọng xác lập nền tảng cho việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được TGPL. Trong các điều ước quốc tế về nhân quyền, quyền được TGPL thường được ghi nhận ở góc độ quyền con người, quyền tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật, quyền được bảo vệ “lẽ phải”, được xét xử công bằng kể cả khi người đó có hành vi vi phạm pháp luật. Ở nhiều quốc gia, quyền được TGPL là quyền của những người “yếu thế” như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số… được hỗ trợ dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc giảm phí nhằm giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật.
Theo Công ước ICCPR,
các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước, không có bất kỳ sự phân biệt nào[1];
nhận sự TGPL theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả trong quá trình xét xử tội hình sự; mọi người đều có quyền được bảo đảm tối thiểu như quyền được thông báo về lý do buộc tội, tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, TGPL theo sự lựa chọn của mình[2]. Quy định này khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được TGPL cho những người không có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình để bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý.
Bên cạnh Công ước ICCPR, nhiều điều ước quốc tế khác cũng quy định về quyền được TGPL cho các nhóm đặc thù. Ví dụ, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) yêu cầu bảo đảm trẻ em bị cáo buộc hoặc bị xác định là vi phạm pháp luật hình sự được tiếp cận TGPL hoặc sự hỗ trợ thích hợp để chuẩn bị và thực hiện việc bào chữa
[3]. Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD) yêu cầu bảo đảm người khuyết tật được tiếp cận công lý trên cơ sở bình đẳng với những người khác, thông qua các điều chỉnh phù hợp về thủ tục và các biện pháp hỗ trợ cần thiết
[4].
Ngoài ra, một số văn kiện quốc tế như Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, Các nguyên tắc, hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự,… cũng nhấn mạnh: TGPL cần được cung cấp kịp thời, miễn phí đối với người không có khả năng chi trả, bảo đảm chất lượng, không phân biệt đối xử và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế khác.
Như vậy, ở góc độ quốc tế, quyền được TGPL là một bộ phận quan trọng của quyền tiếp cận công lý, góp phần tháo gỡ những rào cản về kinh tế, xã hội, nhận thức, tuổi tác, hoàn cảnh sống, khả năng tự bảo vệ và vị thế pháp lý của các nhóm yếu thế, qua đó bảo đảm bình đẳng thực chất trước pháp luật và phòng ngừa các nguy cơ xâm phạm quyền con người trong hoạt động tư pháp.
1.2. Nội luật hóa quyền được TGPL trong pháp luật Việt Nam
Là quốc gia thành viên, Việt Nam chủ động nội luật hóa các cam kết liên quan đến quyền con người và TGPL tại các ĐUQT, trong đó có Công ước ICCPR, vào các chính sách, pháp luật quốc gia. Hiến pháp Việt Nam khẳng định, Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
[5] Luật TGPL
[6] cụ thể hóa các nguyên tắc này thông qua việc khẳng định: TGPL là “trách nhiệm của Nhà nước” trong việc cung cấp “dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL", góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
[7]
Luật TGPL năm 2017, được sửa đổi, bổ sung năm 2026, quy định toàn diện, cụ thể về tổ chức và hoạt động TGPL; bao gồm diện người được TGPL; tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL; phạm vi, hình thức, lĩnh vực và trình tự thực hiện TGPL; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và bảo đảm TGPL có chất lượng, hiệu quả, chuyên nghiệp, hiện đại, lấy người được TGPL làm trung tâm, tăng cường khả năng tiếp cận TGPL của các nhóm yếu thế. Trên cơ sở quy định của Luật TGPL, khoảng 20 VBQPPL dưới luật như nghị định, thông tư, thông tư liên tịch đã được ban hành để cụ thể hóa các quy định về TGPL, tạo hành lang pháp lý để đưa Luật đi vào cuộc sống.
Bên cạnh đó, nhiều quy định về bảo đảm quyền được TGPL cũng được quy định trong các đạo luật quan trọng như: Bộ luật Tố tụng hình sự
[8], Bộ luật Tố tụng dân sự
[9], Luật Tố tụng hành chính
[10], Luật Tư pháp người chưa thành niên
[11], Luật Trẻ em
[12], Luật Người khuyết tật
[13], Luật Phòng, chống mua bán người
[14], Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…
[15]. Các văn bản này quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giải thích, thông báo, thông tin, giới thiệu, chuyển yêu cầu TGPL và tạo điều kiện để người thuộc diện TGPL tiếp cận và sử dụng TGPL.
Để bảo đảm các quy định của pháp luật được triển khai thống nhất, Chính phủ, Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành và cơ chế phối hợp liên ngành về TGPL
[16], nhất là trong hoạt động tố tụng. Các quy định này không chỉ cụ thể hóa trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức mà còn góp phần tăng cường khả năng tiếp cận TGPL của người dân, nâng cao hiệu quả trong việc phát hiện, giới thiệu và bảo vệ quyền của người thuộc diện TGPL.
Như vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền được TGPL của người dân thuộc diện TGPL. Trên cơ sở đó, các cơ chế thực thi và kiểm tra, giám sát, đánh giá được tiến hành để bảo đảm quyền TGPL được thực hiện trên thực tiễn, góp phần giúp người dân, nhất là những người yếu thế tiếp cận công lý.
2. LỘ TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRONG LĨNH VỰC TGPL
Để triển khai thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đối với Báo cáo lần thứ tư của Việt Nam về thực hiện Công ước ICCPR và Quyết định 2715/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác TGPL đã được triển khai đồng bộ và đã đạt được nhiều kết quả tích cực; sơ bộ như sau:
2.1. Rà soát, hoàn thiện thể chế TGPL - tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tiếp cận công lý của người dân
Xác định hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ tiên quyết nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền TGPL và cũng là nhiệm vụ đầu tiên tại Quyết định 2715/QĐ-TTg, được sự cho phép của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Cục PB&TG đã tích cực phối hợp với các đơn vị có liên quan tập trung rà soát các VBQPPL liên quan đến TGPL và gắn với thực thi Công ước ICCPR; trọng tâm là rà soát Luật TGPL năm 2017 và các văn bản dưới luật
[17], pháp luật dân sự, hình sự, hành chính; các luật, bộ luật tố tụng; Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phòng, chống mua bán người, … để đề xuất phương án hoàn thiện nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, khả thi và phù hợp với
Công ước ICCPR, trong đó chú trọng đánh giá tính tương thích giữa quy định của pháp luật trong nước với quy định của điều ước quốc tế.
Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện các văn bản pháp luật về TGPL nhằm tiếp tục nội luật hóa các quy định của
Công ước ICCPR, thực hiện tốt hơn Khuyến nghị của Ủy ban nhân quyền. Cục PB&TG Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, xây dựng dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TGPL. Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa 16 đã thông Luật TGPL số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL số 11/2017/QH14 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành, trong đó có tích hợp các nội dung sửa đổi từ Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và các chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng đặc thù. Trên cơ sở quy định của Luật TGPL, năm 2026 Cục PBGDPL và TGPL đang phối hợp nghiên cứu sửa đổi các VBQPPL dưới luật như Nghị định 144/2017/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT và nhiều thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật TGPL cho phù hợp với quy định của Luật, tạo hành lang pháp lý thống nhất, tiệm cận với các quy định của Công ước ICCPR, trong đó có Điều 14 của Công ước, bảo đảm các đối tượng chính sách xã hội thuộc diện TGPL đều được bảo vệ “từ sớm, từ xa” và ngay từ giai đoạn đầu của quy trình tư pháp.
2.2. Đổi mới công tác truyền thông về TGPL - đưa TGPL đến với người dân ở cơ sở
Để giúp người dân hiểu về quyền con người, quyền được TGPL và các chính sách, pháp luật, trong đó có Luật TGPL, Cục PB&TG Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực đẩy mạnh đổi mới công tác truyền thông về TGPL với nhiều hình thức, biện pháp, nội dung khác nhau để phù hợp với các đối tượng khác nhau, đặc biệt là nhóm đối tượng bị hạn chế quyền tự do như người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân,… góp phần nâng cao hiểu biết, tăng cường tiếp cận và sử dụng hiệu quả dịch vụ TGPL miễn phí của nhà nước. Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và TGPL ngay tại các cơ sở giam giữ không chỉ đáp ứng các chuẩn mực của Công ước ICCPR về bảo đảm quyền được bào chữa và xét xử công bằng, mà còn khẳng định cam kết nâng cao tính minh bạch trong tư pháp, ngăn ngừa các nguy cơ vi phạm quyền con người trong quá trình tố tụng.
Đổi mới truyền thông về TGPL còn thể hiện ở việc hiện đại hóa phương thức truyền thông, xóa bỏ rào cản trong tiếp cận thông tin. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển các sản phẩm truyền thông đa phương tiện (như video, clip, infographic) và lan tỏa trên các nền tảng mạng xã hội đã tối ưu hóa khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ TGPL của người dân. Đặc biệt, đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, việc biên dịch tài liệu sang các tiếng dân tộc thiểu số, kết hợp với các ấn phẩm truyền thống (tờ rơi, tờ gấp, hộp tin, bản tin) đã giải quyết hiệu quả rào cản ngôn ngữ và điều kiện địa lý. Bên cạnh đó, việc cung cấp Bảng thông tin, Tờ thông tin về TGPL, băng ghi âm hoặc các phương tiện điện tử có thông tin về TGPL cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và trại giam góp phần bảo đảm quyền được thông báo, thông tin, giải thích về TGPL cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ, tạm giam; góp phần hạn chế nguy cơ bỏ sót đối tượng được TGPL, tăng cường tính minh bạch trong tố tụng và hiện thực hóa cam kết bảo hộ quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế.
2.3. Mở rộng diện người được TGPL - mở rộng cơ hội bình đẳng trong tiếp cận công lý
Xác định đúng chủ thể thụ hưởng TGPL là yếu tố then chốt để bảo đảm nguồn lực của Nhà nước được phân bổ đúng mục đích, hướng tới các nhóm đối tượng gặp khó khăn trong tiếp cận công lý. Quán triệt các chủ trương của Đảng, Nhà nước và Quyết định số 2715/QĐ-TTg về thúc đẩy tối đa các biện pháp bảo vệ quyền dân sự và chính trị cho các nhóm dễ bị tổn thương, Cục PB&TG đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Tư pháp đề xuất sửa đổi Điều 7 Luật TGPL theo hướng kế thừa và mở rộng tối đa diện người được TGPL.
So với trước đây, Luật sửa đổi đã bãi bỏ điều kiện "có khó khăn về tài chính" đối với một số nhóm đối tượng (như thân nhân liệt sĩ, người nhiễm chất độc da cam, người khuyết tật…); sửa đổi nhóm người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV; bổ sung một số nhóm đối tượng mới (như người dân tộc thiểu số rất ít người, người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại; người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được TGPL trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định được TGPL). Bước tiến này thể hiện sự quan tâm sâu sắc, bảo đảm tính nhân văn, tính thống nhất của hệ thống pháp luật và hiện thực hóa quyền tiếp cận công lý bình đẳng, thực chất cho những người “dễ bị tổn thương” trong xã hội.
2.4. Nâng cao năng lực của tổ chức và đội ngũ người thực hiện TGPL - củng cố nguồn lực cung cấp dịch vụ có chất lượng
Quyền được TGPL chỉ có thể được bảo đảm thực chất khi gắn liền với một hệ thống tổ chức, cán bộ đủ năng lực để cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người dân. Quán triệt Nghị quyết số 27-NQ/TW về việc “nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp”, và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 2715/QĐ-TTg về phát triển số lượng, năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho người thực hiện TGPL, hệ thống tổ chức thực hiện TGPL được xây dựng theo hướng thống nhất, ổn định và bao phủ rộng khắp trên cả nước. Theo quy định của Luật TGPL, tổ chức thực hiện TGPL bao gồm Trung tâm TGPL Nhà nước (và chi nhánh của Trung tâm nếu có), tổ chức ký hợp đồng và tổ chức đăng ký tham gia TGPL. Tính đến ngày 30/5/2026, cả nước có 39 Trung tâm TGPL nhà nước và 68 Chi nhánh Trung tâm. Các Trung tâm TGPL nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện TGPL, kết hợp huy động sự tham gia của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Cùng với việc củng cố bộ máy tổ chức, TGPL chuyển dịch chiến lược sang tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ. Luật TGPL năm 2017 và các văn bản sửa đổi đã chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Trợ giúp viên pháp lý theo hướng ngang bằng với yêu cầu chuyên môn của Luật sư; quy định cụ thể điều kiện đối với người thực hiện TGPL gắn với yêu cầu chuyên môn và bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL, siết chặt trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện TGPL…
Những cải cách mạnh mẽ về thể chế đã góp phần xây dựng đội ngũ thực hiện TGPL ngày càng vững vàng về bản lĩnh và tinh thông về nghiệp vụ. Tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có 1.634 người thực hiện TGPL, trong đó có 740 trợ giúp viên pháp lý (tăng so với năm 2018)
[18], 398 luật sư ký hợp đồng và 11 cộng tác viên TGPL; 152 luật sư, tư vấn viên pháp luật của các tổ chức đăng ký tham gia TGPL. Đây là nguồn lực nòng cốt bảo đảm tính chuyên nghiệp, tận tụy, đáp ứng tốt nhất yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp, góp phần bảo vệ quyền con người và quyền tiếp cận công lý của người dân thuộc diện TGPL.
2.5. Nâng cao chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL - lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo
Để góp phần tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của người được TGPL và nâng cao chất lượng tư pháp, công tác TGPL đã đổi mới quyết liệt theo hướng tập trung vào thực hiện vụ việc, nhất là vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng, bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo Hiến pháp và Công ước ICCPR. Luật TGPL quy định nhiều biện pháp nâng cao chất lượng vụ việc TGPL như bố trí ngân sách để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc TGPL; quy định rõ quy trình, nghiệp vụ TGPL; nghĩa vụ của tổ chức và người thực hiện TGPL trong việc bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL; giao Bộ Tư pháp ban hành quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL, tiêu chí xác định vụ việc TGPL phức tạp, điển hình, chất lượng, thành công; kiểm tra việc thực hiện hoạt động TGPL…
Những cải cách thể chế và đổi mới công tác quản lý đã mang lại hiệu quả rõ nét. Theo báo cáo của các địa phương, từ 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, toàn quốc đã hoàn thành gần 300.000 vụ việc TGPL; trong đó tham gia tố tụng chiếm khoảng 63% tổng số vụ việc TGPL. Hầu hết các vụ việc tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng được đánh giá chất lượng đạt trở lên. Nhiều vụ đạt chất lượng tốt. Đáng chú ý, từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, cả nước có khoảng 30% vụ việc tham gia tố tụng thành công, trong đó 87,26% tổng số vụ việc thành công do trợ giúp viên pháp lý thực hiện. Kết quả này khẳng định chất lượng các vụ việc TGPL ngày càng được nâng cao, nhất là các vụ việc tham gia tố tụng.
2.6. Củng cố cơ chế phối hợp liên ngành - bảo vệ quyền con người từ sớm, từ xa
Bảo đảm quyền được TGPL là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó sự phối hợp liên ngành giữ vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời cho người dân. Để bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc xét xử công bằng, khách quan, hệ thống pháp luật về TGPL đã thể chế hóa cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành, địa phương, giữa tổ chức thực hiện TGPL với các cơ quan, tổ chức có liên quan, đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Trong hoạt động tố tụng, Luật TGPL quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện cơ chế liên ngành, trực TGPL tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
[19]. Luật hóa thời hạn (12 giờ đối với người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ đối với bị can, bị cáo, người bị hại là người được TGPL), cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm TGPL tại địa phương để thụ lý và cử người thực hiện TGPL tham gia tố tụng
[20].
Ngoài ra, các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện TGPL. Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện công tác TGPL, trong đó có truyền thông về TGPL ở cấp cơ sở, giải thích, thông tin, giới thiệu người thuộc diện TGPL
[21]. Có thể thấy, việc tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành đã góp phần ngăn chặn nguy cơ bỏ sót đối tượng, bảo đảm quyền bào chữa trong quá trình tố tụng theo đúng quy định, góp phần bảo vệ quyền con người từ sớm, từ xa và nâng cao khả năng tiếp cận công lý thực chất của nhân dân.
Bên cạnh việc thực thi Công ước ICCPR, Việt Nam đã chủ động ký kết nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương liên quan đến bảo vệ quyền con người và TGPL. Ví dụ, các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và Pháp, Nga, Hungary, Lào..., trong đó có ghi nhận cam kết TGPL tương tự mức độ và điều kiện cho công dân của nhau, trên cơ sở nguyên tắc có đi, có lại. Ở cấp độ đa phương, Việt Nam tích cực tham gia các diễn đàn hợp tác tư pháp quốc tế và pháp luật… nhằm chia sẻ kinh nghiệm tiến bộ về TGPL. Đặc biệt, việc triển khai hiệu quả các dự án hỗ trợ kỹ thuật quốc tế (như dự án “Tăng cường TGPL cho người nghèo và đối tượng yếu thế” do Ngân hàng Thế giới và Quỹ Phát triển Xã hội Nhật Bản tài trợ; Dự án Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II) do Liên minh châu Âu tài trợ), đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng lực, kỹ năng TGPL tại Việt Nam.
2.7. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong TGPL - hiện đại hóa và tăng cường tính minh bạch
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong TGPL là yêu cầu khách quan không chỉ góp phần hiện đại hoá công tác TGPL mà còn tối ưu hóa khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người dân. Trong bối cảnh đó, dự án Hệ thống thông tin TGPL được xây dựng nhằm thu thập, quản lý, khai thác hiệu quả thông tin trong lĩnh vực TGPL; kịp thờiphục vụ công tác chỉ đạo điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng hoạt động TGPL, phù hợp với định hướng xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số
[22]. Luật TGPL sửa đổi cũng quy định cụ thể nhiệm vụ của Bộ Tư pháp trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động TGPL; xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu TGPL; thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu TGPL trên Cổng Pháp luật quốc gia. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu TGPL trên Cổng Pháp luật quốc gia
[23]. Đồng thời, quy định bắt buộc số hóa hồ sơ vụ việc TGPL, cập nhật 100% hồ sơ vụ việc TGPL vào hệ thống quản lý vụ việc TGPL. Qua theo dõi
[24], các địa phương đã làm tốt việc số hóa và cập nhật hồ sơ vụ việc TGPL vào Hệ thống thông tin TGPL.
Cùng với đó, các địa phương còn tiến hành công bố công khai danh sách các tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Hệ thống thông tin TGPL và Cổng Pháp luật quốc gia. Các thủ tục hành chính liên quan đến TGPL liên tục được rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa và được thực hiện theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên môi trường số. Những nỗ lực này không chỉ tạo thuận lợi cho việc tra cứu, tiếp cận và yêu cầu TGPL, giảm thiểu thời gian và chi phí cho người dân - đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số - mà còn hiện thực hóa mục tiêu nâng cao tính minh bạch, hiện đại trong TGPL, tối ưu hóa khả năng tiếp cận công lý bình đẳng, nhanh chóng cho người dân và người thuộc diện TGPL.
3. KẾT LUẬN
Quyền được TGPL là một bộ phận của quyền tiếp cận công lý và quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước ICCPR. Bảo đảm quyền được TGPL không chỉ là sự tiếp nối truyền thống nhân văn, chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, mà còn khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền tiếp cận công lý theo các chuẩn mực quốc tế.
Những kết quả mà TGPL đạt được trong thời gian qua - từ việc hoàn thiện thể chế, nội luật hóa các cam kết quốc tế trong Luật TGPL, đổi mới công tác truyền thông hướng về cơ sở, mở rộng diện người thụ hưởng, củng cố đội ngũ và chất lượng vụ việc, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành cho đến đẩy mạnh chuyển đổi số và hợp tác quốc tế… - đã tạo đà phát triển vững chắc cho công tác TGPL. Việc thực thi hiệu quả Quyết định số 2715/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp đưa các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, được TGPL để tiếp cận công lý một cách bình đẳng, kịp thời và thực chất.
Trên cơ sở các kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, công tác TGPL tiếp tục được triển khai đồng bộ theo hướng: lấy người dân làm trung tâm, lấy chất lượng và sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng làm thước đo hiệu quả. Với khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện, bộ máy chuyên nghiệp, hiện đại và sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, cùng với sự phối hợp, hợp tác thiện chí, tích cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các đối tác quốc tế, TGPL Việt Nam tự tin tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.