30/07/2025
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Giới thiệu nội dung cơ bản của luật số 82/2025/qh15 Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânNgày 24 tháng 6 năm 2025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 82/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật số 82/2025/QH15). Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 21/2025/L-CTN ngày 25/6/2025 về việc công bố Luật và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT
1. Cơ sở chính trị, pháp lý
- Thực hiện các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp (Kết luận số 126-KL/TW, ngày 14/02/2025, Kết luận số 127-KL/TW, ngày 28/02/2025, Kết luận số 135-KL/TW, ngày 28/3/2025, Kết luận số 136-KL/TW, ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các Đề án tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy TAND, VKSND; Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp); theo đó, hệ thống VKSND được tổ chức, sắp xếp lại thành 3 cấp (VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực); đối với Viện kiểm sát quân sự giữ nguyên.
- Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”, “VKSND gồm VKSND tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định”, “VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
2. Cơ sở thực tiễn
Thực hiện Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hệ thống tổ chức VKSND được chuyển từ hệ thống VKSND 03 cấp (tồn tại trong 55 năm) thành hệ thống VKSND 04 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án nhân dân theo 04 cấp gồm: VKSND tối cao; VKSND cấp cao (có 03 VKSND cấp cao); VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (có 63 VKSND cấp tỉnh); VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (có 693 VKSND cấp huyện) và Viện kiểm sát quân sự các cấp (có 42 Viện kiểm sát quân sự các cấp).
Tuy nhiên, để thể chế hóa các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp; theo đó, hệ thống VKSND được tổ chức, sắp xếp lại gồm VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực, Viện kiểm sát quân sự các cấp; vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 để đáp ứng yêu cầu mới.
Bên cạnh đó, sửa đổi một số nội dung của Luật để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, bao gồm cả các luật dự kiến thông qua cùng thời điểm như: một số chức danh tư pháp trong ngành Kiểm sát nhân dân gồm: Cán bộ điều tra, Giám định viên kỹ thuật hình sự đã được quy định tại Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2020); bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND về xử phạt hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng để bảo đảm đồng bộ, thống nhất dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên, bổ nhiệm Kiểm sát viên, tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp, bổ nhiệm Kiểm sát viên trong trường hợp đặc biệt, nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên,...để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với dự án Luật Cán bộ, công chức (sửa đổi), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;…bảo đảm đúng tiến độ, lộ trình theo kết luận của Bộ Chính trị và yêu cầu của Quốc hội.
Với các lý do nêu trên, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND là hết sức cần thiết. Quá trình xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND (Luật số 82/2025/QH15) được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24/6/2025.
II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT
1. Mục đích xây dựng Luật
Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức bộ máy của VKSND bảo đảm phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo 03 cấp là VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực theo chủ trương của Đảng và bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
Việc xây dựng Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp và bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 02 Điều, trong đó:
Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND gồm 31 khoản để sửa đổi, bổ sung các nội dung cụ thể tại 37 Điều và bổ sung 01 Điều mới, bãi bỏ 03 Điều liên quan đến VKSND cấp cao.
Điều 2: Hiệu lực thi hành: Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025.
IV. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Luật số 82/2025/QH15 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng như sau:
1. Về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND các cấp
Luật đã sửa đổi, bổ sung về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND các cấp như sau:
- Sửa đổi hệ thống VKSND từ 04 cấp thành 03 cấp, gồm: VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực tại Điều 40 của Luật.
- Sửa đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khu vực, cụ thể là: “VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ” tại Điều 41 của Luật, cơ cấu tổ chức của VKSND khu vực tại Điều 48; thành lập, giải thể VKSND tại Điều 49 của Luật.
- Bổ sung quy định về “Các Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm” tại Điều 42 để bảo đảm phù hợp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.
- Sửa đổi quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND (Điều 7), Ủy ban kiểm sát VKSND cấp tỉnh (Điều 47), cơ cấu tổ chức của VKSND nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh (Điều 66), Viện trưởng VKSND cấp khu vực (Điều 67), Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Phó Viện trưởng VKSND khu vực (Điều 68) để phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy khi không còn VKSND cấp cao.
- Bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở tố tụng của VKSND tại Điều 4 của Luật để bảo đảm thống nhất, phù hợp với thẩm quyền của VKSND trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng số 02/2022/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Sửa đổi nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính tại Điều 28 của Luật để bảo đảm phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cơ quan thi hành án dân sự trong dự thảo Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi).
2. Về Kiểm sát viên và các chức danh khác
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên (Điều 74): Luật đã bổ sung quy định về các nhiệm vụ, quyền khác của Kiểm sát viên ngoài nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
- Về số lượng Kiểm sát viên VKSND tối cao (Điều 93): Luật sửa đổi về số lượng Kiểm sát viên VKSND tối cao tối đa từ 19 người thành 27 người để bảo đảm nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ công tố, kiểm sát xét xử đối với hoạt động của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về bổ nhiệm Kiểm sát viên (các điều 76a, 79, 81): Luật đã sửa đổi theo hướng chỉ thi khi bổ nhiệm Kiểm sát viên lần đầu, sau đó xét nâng ngạch để bảo đảm phù hợp với việc đổi mới ngạch công chức theo Luật Cán bộ, công chức và thống nhất, đồng bộ với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Đồng thời, bổ sung quy định cụ thể các điều kiện bổ nhiệm vào ngạch cao hơn.
- Về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên (Điều 82): Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, theo đó: (1) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND tối cao được tính từ khi được bổ nhiệm đến khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác; (2) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm, trừ trường hợp nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND tối cao. Kiểm sát viên được bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm vào ngạch cao hơn có nhiệm kỳ đến khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.
- Về chuyển đổi ngạch Kiểm sát viên sang Điều tra viên (Điều 58): Luật đã bổ sung quy định những yêu cầu có tính nguyên tắc đối với việc chuyển đổi giữa các ngạch Kiểm sát viên và các ngạch Điều tra viên làm căn cứ để Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết thi hành và sự chủ động trong công tác cán bộ.
- Luật bổ sung quy định về chức danh Cán bộ điều tra, Giám định viên kỹ thuật hình sự để bảo đảm phù hợp với Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Luật Giám định tư pháp (các điều 58, 63, 97).
- Sửa đổi, bổ sung quy định về bổ nhiệm các ngạch Kiểm sát viên trong trường hợp đặc biệt tại Điều 81 để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, theo đó, không quy định tiêu chuẩn về “đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát” và “Có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Luật này”.
3. Các nội dung khác
- Luật bổ sung cụm từ “phân trại thuộc trại tạm giam” tại điểm a khoản 2 Điều 22, cụm từ “Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” tại điểm c khoản 2 Điều 22 và khoản 1 Điều 24 để bảo đảm phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.
- Luật bổ sung cụm từ “nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” tại Điều 36, điểm b khoản 2 Điều 43, khoản 7 Điều 63 để bảo đảm phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
V. TỔ CHỨC THI HÀNH
Để triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND và Nghị quyết thi hành Luật, VKSND tối cao đã ban hành Kế hoạch số 130/KH-VKSTC ngày 01/7/2025 thực hiện Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc triển khai thi hành một số luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thông qua tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV trong ngành Kiểm sát nhân dân; trong đó, xác định rõ các nội dung công việc và tiến độ thực hiện như sau:
1. Tổ chức quán triệt, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến luật, nghị quyết thi hành luật
1.1. Tổ chức Hội nghị tập huấn Luật, Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, công chức, viên chức của Viện kiểm sát các cấp nắm vững các quy định liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, cán bộ, chức năng, nhiệm vụ của Ngành (hoàn thành trước ngày 31/7/2025).
1.2. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND tỉnh, thành phố (VKSND cấp tỉnh), Viện trưởng VKSND khu vực chủ động tổ chức thực hiện việc giới thiệu, phổ biến, quán triệt nội dung của Luật, Nghị quyết thi hành Luật cho các công chức, người lao động khác tại đơn vị mình và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể thuộc trách nhiệm của mình (từ ngày 01/7/2025).
2. Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định của Luật, nghị quyết thi hành Luật
2.1. Các đơn vị thuộc VKSND tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật và Nghị quyết thi hành Luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Chính phủ hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSND tối cao, bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật, cụ thể là:
- Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025);
- Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của VKSND các cấp (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025);
- Thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết việc xét chọn, thi tuyển, bổ nhiệm Kiểm sát viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết việc chuyển đổi giữa các ngạch Kiểm sát viên và các ngạch Điều tra viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
2.2. Trên cơ sở nội dung mới của Luật và nghị quyết thi hành Luật, các đơn vị thuộc VKSND tối cao chủ động rà soát các thông tư, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật và nghị quyết thi hành Luật để bảo đảm phù hợp với các quy định mới của luật và nghị quyết thi hành Luật gồm:
- Thông tư số 01/2024/TT-VKSTC ngày 24/4/2024 quy định về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong ngành KSND
(Hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư số 02/2024/TT-VKSTC ngày 12/8/2024 quy định về công tác thi đua, khen thưởng trong ngành KSND (Hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư số 03/2024/TT-VKSTC ngày 23/10/2024 quy định về quản lý, sử dụng trang phục, Giấy chứng minh Kiểm sát viên, Giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
2.3. Trên cơ sở nội dung mới của Luật, Nghị quyết thi hành Luật, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan chủ động rà soát, đối chiếu với các quy chế tổ chức và hoạt động, quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn và văn bản khác trong nội bộ Ngành do đơn vị mình chủ trì; chủ động tham mưu, đề xuất Viện trưởng VKSND tối cao việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy chế tổ chức và hoạt động, quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn trong nội bộ Ngành để bảo đảm phù hợp với các quy định mới của Luật và nghị quyết thi hành Luật (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
2.4. Các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện kiểm sát các cấp chủ động tổ chức hoặc phối hợp với các đơn vị thuộc các ngành hữu quan và cơ quan, tổ chức ở địa phương rà soát các quy chế, quy định phối hợp cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để bảo đảm việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định mới của Luật và Nghị quyết thi hành Luật (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
3. Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy VKSND các cấp
Vụ Tổ chức cán bộ hướng dẫn các đơn vị thuộc VKSND tối cao và các Viện kiểm sát địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự Viện kiểm sát các cấp đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên sâu trong từng lĩnh vực công tác, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định mới của Luật, Nghị quyết thi hành Luật (trọng tâm trong năm 2025 và các năm tiếp theo).
4. Sửa đổi, bổ sung mẫu hồ sơ, tài liệu, văn bản tố tụng, báo cáo; chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê; xây dựng quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng con dấu trong ngành KSND
Các đơn vị thuộc VKSND tối cao tổ chức rà soát các mẫu hồ sơ, tài liệu, văn bản tố tụng, các loại báo cáo chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê; xây dựng quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng con dấu trong ngành Kiểm sát nhân dân (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
5. Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trường Đại học Kiểm sát chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của VKSND tối cao tổ chức rà soát, biên soạn, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm phù hợp với quy định mới của luật, nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (thực hiện từ 01/7/2025 và các năm tiếp theo).
6. Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho việc thi hành luật, nghị quyết
Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, VKSND các cấp xây dựng kế hoạch bảo đảm kinh phí cần thiết cho các hoạt động triển khai thi hành Luật và nghị quyết thi hành Luật; tham mưu bố trí trụ sở làm việc cho các đơn vị thuộc VKSND tối cao, VKSND địa phương; đồng thời, có kế hoạch, lộ trình, phương án xây dựng trụ sở làm việc mới tập trung của Viện kiểm sát các cấp trong thời gian tới... (thực hiện từ 01/7/2025 và các năm tiếp theo).
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 82/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật số 82/2025/QH15). Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 21/2025/L-CTN ngày 25/6/2025 về việc công bố Luật và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG LUẬT
1. Cơ sở chính trị, pháp lý
- Thực hiện các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp (Kết luận số 126-KL/TW, ngày 14/02/2025, Kết luận số 127-KL/TW, ngày 28/02/2025, Kết luận số 135-KL/TW, ngày 28/3/2025, Kết luận số 136-KL/TW, ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các Đề án tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy TAND, VKSND; Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 11 về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp); theo đó, hệ thống VKSND được tổ chức, sắp xếp lại thành 3 cấp (VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực); đối với Viện kiểm sát quân sự giữ nguyên.
- Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”, “VKSND gồm VKSND tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định”, “VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
2. Cơ sở thực tiễn
Thực hiện Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hệ thống tổ chức VKSND được chuyển từ hệ thống VKSND 03 cấp (tồn tại trong 55 năm) thành hệ thống VKSND 04 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án nhân dân theo 04 cấp gồm: VKSND tối cao; VKSND cấp cao (có 03 VKSND cấp cao); VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (có 63 VKSND cấp tỉnh); VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (có 693 VKSND cấp huyện) và Viện kiểm sát quân sự các cấp (có 42 Viện kiểm sát quân sự các cấp).
Tuy nhiên, để thể chế hóa các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp; theo đó, hệ thống VKSND được tổ chức, sắp xếp lại gồm VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực, Viện kiểm sát quân sự các cấp; vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 để đáp ứng yêu cầu mới.
Bên cạnh đó, sửa đổi một số nội dung của Luật để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, bao gồm cả các luật dự kiến thông qua cùng thời điểm như: một số chức danh tư pháp trong ngành Kiểm sát nhân dân gồm: Cán bộ điều tra, Giám định viên kỹ thuật hình sự đã được quy định tại Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2020); bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND về xử phạt hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng để bảo đảm đồng bộ, thống nhất dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên, bổ nhiệm Kiểm sát viên, tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp, bổ nhiệm Kiểm sát viên trong trường hợp đặc biệt, nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên,...để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với dự án Luật Cán bộ, công chức (sửa đổi), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;…bảo đảm đúng tiến độ, lộ trình theo kết luận của Bộ Chính trị và yêu cầu của Quốc hội.
Với các lý do nêu trên, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND là hết sức cần thiết. Quá trình xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND (Luật số 82/2025/QH15) được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24/6/2025.
II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT
1. Mục đích xây dựng Luật
Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức bộ máy của VKSND bảo đảm phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo 03 cấp là VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực theo chủ trương của Đảng và bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật
Việc xây dựng Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND tại các Nghị quyết, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của VKSND các cấp và bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
III. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 02 Điều, trong đó:
Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND gồm 31 khoản để sửa đổi, bổ sung các nội dung cụ thể tại 37 Điều và bổ sung 01 Điều mới, bãi bỏ 03 Điều liên quan đến VKSND cấp cao.
Điều 2: Hiệu lực thi hành: Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025.
IV. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Luật số 82/2025/QH15 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng như sau:
1. Về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND các cấp
Luật đã sửa đổi, bổ sung về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của VKSND các cấp như sau:
- Sửa đổi hệ thống VKSND từ 04 cấp thành 03 cấp, gồm: VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực tại Điều 40 của Luật.
- Sửa đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khu vực, cụ thể là: “VKSND cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ” tại Điều 41 của Luật, cơ cấu tổ chức của VKSND khu vực tại Điều 48; thành lập, giải thể VKSND tại Điều 49 của Luật.
- Bổ sung quy định về “Các Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm” tại Điều 42 để bảo đảm phù hợp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.
- Sửa đổi quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND (Điều 7), Ủy ban kiểm sát VKSND cấp tỉnh (Điều 47), cơ cấu tổ chức của VKSND nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh (Điều 66), Viện trưởng VKSND cấp khu vực (Điều 67), Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Phó Viện trưởng VKSND khu vực (Điều 68) để phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy khi không còn VKSND cấp cao.
- Bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở tố tụng của VKSND tại Điều 4 của Luật để bảo đảm thống nhất, phù hợp với thẩm quyền của VKSND trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng số 02/2022/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Sửa đổi nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính tại Điều 28 của Luật để bảo đảm phù hợp với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy cơ quan thi hành án dân sự trong dự thảo Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi).
2. Về Kiểm sát viên và các chức danh khác
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên (Điều 74): Luật đã bổ sung quy định về các nhiệm vụ, quyền khác của Kiểm sát viên ngoài nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
- Về số lượng Kiểm sát viên VKSND tối cao (Điều 93): Luật sửa đổi về số lượng Kiểm sát viên VKSND tối cao tối đa từ 19 người thành 27 người để bảo đảm nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ công tố, kiểm sát xét xử đối với hoạt động của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về bổ nhiệm Kiểm sát viên (các điều 76a, 79, 81): Luật đã sửa đổi theo hướng chỉ thi khi bổ nhiệm Kiểm sát viên lần đầu, sau đó xét nâng ngạch để bảo đảm phù hợp với việc đổi mới ngạch công chức theo Luật Cán bộ, công chức và thống nhất, đồng bộ với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Đồng thời, bổ sung quy định cụ thể các điều kiện bổ nhiệm vào ngạch cao hơn.
- Về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên (Điều 82): Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, theo đó: (1) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND tối cao được tính từ khi được bổ nhiệm đến khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác; (2) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm, trừ trường hợp nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND tối cao. Kiểm sát viên được bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm vào ngạch cao hơn có nhiệm kỳ đến khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.
- Về chuyển đổi ngạch Kiểm sát viên sang Điều tra viên (Điều 58): Luật đã bổ sung quy định những yêu cầu có tính nguyên tắc đối với việc chuyển đổi giữa các ngạch Kiểm sát viên và các ngạch Điều tra viên làm căn cứ để Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết thi hành và sự chủ động trong công tác cán bộ.
- Luật bổ sung quy định về chức danh Cán bộ điều tra, Giám định viên kỹ thuật hình sự để bảo đảm phù hợp với Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Luật Giám định tư pháp (các điều 58, 63, 97).
- Sửa đổi, bổ sung quy định về bổ nhiệm các ngạch Kiểm sát viên trong trường hợp đặc biệt tại Điều 81 để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, theo đó, không quy định tiêu chuẩn về “đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát” và “Có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Luật này”.
3. Các nội dung khác
- Luật bổ sung cụm từ “phân trại thuộc trại tạm giam” tại điểm a khoản 2 Điều 22, cụm từ “Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” tại điểm c khoản 2 Điều 22 và khoản 1 Điều 24 để bảo đảm phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.
- Luật bổ sung cụm từ “nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” tại Điều 36, điểm b khoản 2 Điều 43, khoản 7 Điều 63 để bảo đảm phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
V. TỔ CHỨC THI HÀNH
Để triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức VKSND và Nghị quyết thi hành Luật, VKSND tối cao đã ban hành Kế hoạch số 130/KH-VKSTC ngày 01/7/2025 thực hiện Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc triển khai thi hành một số luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thông qua tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV trong ngành Kiểm sát nhân dân; trong đó, xác định rõ các nội dung công việc và tiến độ thực hiện như sau:
1. Tổ chức quán triệt, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến luật, nghị quyết thi hành luật
1.1. Tổ chức Hội nghị tập huấn Luật, Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, công chức, viên chức của Viện kiểm sát các cấp nắm vững các quy định liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, cán bộ, chức năng, nhiệm vụ của Ngành (hoàn thành trước ngày 31/7/2025).
1.2. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND tỉnh, thành phố (VKSND cấp tỉnh), Viện trưởng VKSND khu vực chủ động tổ chức thực hiện việc giới thiệu, phổ biến, quán triệt nội dung của Luật, Nghị quyết thi hành Luật cho các công chức, người lao động khác tại đơn vị mình và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể thuộc trách nhiệm của mình (từ ngày 01/7/2025).
2. Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định của Luật, nghị quyết thi hành Luật
2.1. Các đơn vị thuộc VKSND tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật và Nghị quyết thi hành Luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Chính phủ hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSND tối cao, bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật, cụ thể là:
- Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025);
- Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của VKSND các cấp (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025);
- Thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết việc xét chọn, thi tuyển, bổ nhiệm Kiểm sát viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao quy định chi tiết việc chuyển đổi giữa các ngạch Kiểm sát viên và các ngạch Điều tra viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
2.2. Trên cơ sở nội dung mới của Luật và nghị quyết thi hành Luật, các đơn vị thuộc VKSND tối cao chủ động rà soát các thông tư, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật và nghị quyết thi hành Luật để bảo đảm phù hợp với các quy định mới của luật và nghị quyết thi hành Luật gồm:
- Thông tư số 01/2024/TT-VKSTC ngày 24/4/2024 quy định về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong ngành KSND
(Hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư số 02/2024/TT-VKSTC ngày 12/8/2024 quy định về công tác thi đua, khen thưởng trong ngành KSND (Hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
- Thông tư số 03/2024/TT-VKSTC ngày 23/10/2024 quy định về quản lý, sử dụng trang phục, Giấy chứng minh Kiểm sát viên, Giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên trong ngành KSND (hoàn thành trước ngày 30/9/2025);
2.3. Trên cơ sở nội dung mới của Luật, Nghị quyết thi hành Luật, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan chủ động rà soát, đối chiếu với các quy chế tổ chức và hoạt động, quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn và văn bản khác trong nội bộ Ngành do đơn vị mình chủ trì; chủ động tham mưu, đề xuất Viện trưởng VKSND tối cao việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy chế tổ chức và hoạt động, quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn trong nội bộ Ngành để bảo đảm phù hợp với các quy định mới của Luật và nghị quyết thi hành Luật (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
2.4. Các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện kiểm sát các cấp chủ động tổ chức hoặc phối hợp với các đơn vị thuộc các ngành hữu quan và cơ quan, tổ chức ở địa phương rà soát các quy chế, quy định phối hợp cần bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để bảo đảm việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định mới của Luật và Nghị quyết thi hành Luật (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
3. Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy VKSND các cấp
Vụ Tổ chức cán bộ hướng dẫn các đơn vị thuộc VKSND tối cao và các Viện kiểm sát địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự Viện kiểm sát các cấp đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên sâu trong từng lĩnh vực công tác, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định mới của Luật, Nghị quyết thi hành Luật (trọng tâm trong năm 2025 và các năm tiếp theo).
4. Sửa đổi, bổ sung mẫu hồ sơ, tài liệu, văn bản tố tụng, báo cáo; chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê; xây dựng quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng con dấu trong ngành KSND
Các đơn vị thuộc VKSND tối cao tổ chức rà soát các mẫu hồ sơ, tài liệu, văn bản tố tụng, các loại báo cáo chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê; xây dựng quy định về đăng ký, quản lý, sử dụng con dấu trong ngành Kiểm sát nhân dân (hoàn thành trước ngày 30/9/2025).
5. Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Trường Đại học Kiểm sát chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của VKSND tối cao tổ chức rà soát, biên soạn, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm phù hợp với quy định mới của luật, nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (thực hiện từ 01/7/2025 và các năm tiếp theo).
6. Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho việc thi hành luật, nghị quyết
Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, VKSND các cấp xây dựng kế hoạch bảo đảm kinh phí cần thiết cho các hoạt động triển khai thi hành Luật và nghị quyết thi hành Luật; tham mưu bố trí trụ sở làm việc cho các đơn vị thuộc VKSND tối cao, VKSND địa phương; đồng thời, có kế hoạch, lộ trình, phương án xây dựng trụ sở làm việc mới tập trung của Viện kiểm sát các cấp trong thời gian tới... (thực hiện từ 01/7/2025 và các năm tiếp theo).
File đính kèm: