Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 sau gần 20 năm thi hành đã hoàn thành sứ mệnh của mình khi giúp Việt Nam bước qua giai đoạn tin học hóa. Hiện nay, với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật... đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý mới. Đáp ứng yêu cầu này, ngày 11/12/2025, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Chuyển đổi số với 08 Chương, 48 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Các quy định trong Luật tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực đột phá cho chuyển đổi số quốc gia. Các nội dung chính bao gồm:
- Thiết lập nhận thức chung
Nhằm thống nhất nhận thức và tư duy pháp lý về chuyển đổi số, Luật đã quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chuẩn hóa các khái niệm nền tảng như: Chuyển đổi số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, nền tảng số, hệ thống số, môi trường số, chính phủ số, kinh tế số, xã hội số...; xác định rõ nội hàm các hoạt động chuyển đổi số và các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo đảm kỷ cương, an toàn trên môi trường số.
- Quy định nguyên tắc, chính sách về chuyển đổi số
Xác lập các nguyên tắc căn bản về chuyển đổi số, đóng vai trò làm “kim chỉ nam” cho pháp luật chuyên ngành chuyển đổi số; và nguyên tắc kiến trúc, thiết kế, yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số, như: sử dụng nền tảng số, điện toán đám mây, hỗ trợ về kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế... Có thể hiểu các quy định này nhằm định hình DNA chuẩn mực cho các hệ thống số ngay từ đầu, hạn chế tối đa tình trạng đầu tư manh mún, rời rạc, kém hiệu quả và thiếu tính liên thông vốn tồn tại thời gian qua.
- Thiết lập cơ chế điều phối quốc gia về Chuyển đổi số bảo đảm thống nhất, hiệu quả
Quy định về thẩm quyền ban hành Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số cùng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Quy định này có ý nghĩa tạo ra các công cụ thống nhất trong điều phối và thực thi, bảo đảm các mảnh ghép của chuyển đổi số quốc gia đều được khớp nối nhịp nhàng, vận hành đồng bộ trên quy mô quốc gia.
- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân
Phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước của Chính phủ, vai trò đầu mối của Bộ Khoa học và Công nghệ, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và trách nhiệm của người đứng đầu. Việc phân định này nhằm khắc phục tình trạng trách nhiệm không rõ ràng, quy rõ trách nhiệm cá nhân và tổ chức để bảo đảm tính thực thi nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả của Luật trong thực tiễn.
- Biện pháp bảo đảm chuyển đổi số
Luật hóa hệ thống các yếu tố thiết yếu bảo đảm Chuyển đổi số quốc gia được hiệu quả, bền vững, bao gồm:
Một là, nhân lực số: năng lực số là yêu cầu bắt buộc trong giáo dục và công vụ, kết hợp cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ đặc thù để thu hút nhân tài, đồng thời cam kết hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự thích ứng bền vững của người lao động.
Hai là, tài chính cho chuyển đổi số: Luật hóa cam kết chi cho chuyển đổi số hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước làm đòn bẩy dẫn dắt, nhằm khơi thông nguồn lực. Đặc biệt, Luật giải quyết vấn đề kinh phí cho phát triển thử nghiệm đối với các sản phẩm, dịch vụ chưa có sẵn, dự án chưa có tiền lệ (vốn là điểm nghẽn nhiều năm qua). Luật quy định kinh phí cho nội dung này, cơ chế đặc thù để lựa chọn đối tác thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả trước khi thực hiện các thủ tục đầu tư, thuê, mua sắm theo quy định.
Ba là, phát triển hạ tầng chuyển đổi số: Quy định thống nhất quản lý hạ tầng số, hạ tầng số công cộng; ưu tiên nguồn lực phát triển trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng kết nối để thông minh hóa các hạ tầng kỹ thuật quan trọng như: hạ tầng kỹ thuật giao thông, năng lượng, cấp thoát nước, đô thị, tòa nhà công cộng, môi trường...
Bốn là, phát triển hệ thống số dùng chung quốc gia, nền tảng số dùng chung trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị: Ưu tiên ngân sách và khuyến khích hợp tác công tư phát triển hệ thống số dùng chung quốc gia; quy định về tiêu chí, danh mục nền tảng dùng chung quốc gia, nền tảng số dùng chung trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, làm cơ sở để tổ chức triển khai, sử dụng hiệu quả, hạn chế trùng lặp.
Năm là, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát lĩnh vực chuyển đổi số: Tạo ra tấm khiên pháp lý vững chắc để bảo vệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực chuyển đổi số.
Sáu là, thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá hiệu quả Chuyển đổi số: Thiết lập hệ thống chỉ số quốc gia và nền tảng thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá chuyển đổi số thống nhất; lấy kết quả đánh giá làm căn cứ để đánh giá, công bố định kỳ hằng năm, xếp hạng thi đua, điều chỉnh chính sách và ưu tiên phân bổ ngân sách.
Đây là giải pháp then chốt để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc chung về chuyển đổi số quốc gia thời gian qua, đặc biệt là về nhân lực và tài chính, qua đó tạo ra nền tảng vững chắc để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả, bền vững.
(6) Phát triển Chính phủ số
Luật đã thể chế hóa hoạt động của Chính phủ số theo hướng cung cấp dịch vụ công, công tác quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra thực hiện toàn trình trên môi trường số, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hoạt động chỉ đạo, điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu số; quy trình nghiệp vụ phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc và đơn giản hóa trước khi thực hiện số hóa.
Đồng thời, quy định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; áp dụng nguyên tắc khai báo một lần, không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ; đồng thời cam kết đo lường chất lượng dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng cho mọi người dân. Quy định này đánh dấu sự thay đổi căn bản phương thức phục vụ của cơ quan nhà nước, hướng tới mục tiêu cao nhất là giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Thanh Trang
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý