Các đại biểu tại Tập huấn về kỹ năng trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình đang thảo luận bài tập tình huống
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trợ giúp pháp lý (TGPL) được xác định là một trong những công cụ quan trọng nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền tiếp cận công lý của các nhóm yếu thế trong xã hội. Quá nghiên cứu, đánh giá pháp luật trợ giúp pháp lý hiện hành cho thấy sự quan tâm ngày càng rõ nét của Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế về TGPL, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và định hướng chính sách của quốc gia.
Trên cơ sở nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế vận hành TGPL của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có hệ thống TGPL phát triển hoặc có điều kiện tương đồng với Việt Nam, có thể nhận thấy rằng pháp luật TGPL Việt Nam đã và đang từng bước tiệm cận với pháp luật và thông lệ quốc tế trên nhiều phương diện cơ bản. Bài viết tập trung phân tích mức độ tiệm cận này thông qua các nội dung trọng tâm: mô hình TGPL, diện người được TGPL, chủ thể thực hiện TGPL và cơ chế bảo đảm tiếp cận sớm với TGPL trong tố tụng hình sự.
2. Sự tiệm cận về mô hình trợ giúp pháp lý
Mô hình hỗn hợp là sự tồn tại của hệ thống TGPL của Nhà nước, đồng thời Nhà nước ký hợp đồng với các tổ chức xã hội hoặc luật sư tham gia thực hiện TGPL và trả thù lao cho luật sư, tổ chức xã hội. Hiện nay, rất nhiều nước áp dụng mô hình này (Nhật Bản, Ailen, bang Victoria, Queensland (Úc), Mỹ, Nam Phi, Hàn Quốc, bang Ontario (Canada), Malaysia, Israel,…). Đây là mô hình phổ biến nhất hiện nay trên thế giới và cũng là mô hình được đánh giá hiệu quả nhất. Hệ thống TGPL Việt Nam bao gồm các Trung tâm TGPL nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập và được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động. Bên cạnh đó, pháp luật cho phép huy động sự tham gia của các cá nhân và tổ chức ngoài nhà nước, như luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thông qua cơ chế ký hợp đồng hoặc đăng ký tham gia TGPL.
Mô hình TGPL hỗn hợp cho phép Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm quyền được TGPL của người dân, đồng thời phát huy nguồn lực xã hội trong cung cấp dịch vụ pháp lý. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc đáp ứng nhu cầu TGPL tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nơi khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý có thu phí còn hạn chế. Đồng thời, mô hình này cũng thể hiện rõ các quan điểm, chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam về TGPL, bao gồm việc xác định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước; bảo đảm quyền được TGPL phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng TGPL; khuyến khích và ghi nhận sự tham gia, đóng góp của các tổ chức, cá nhân đối với hoạt động TGPL.
3. Sự tiệm cận về diện người được trợ giúp pháp lý
Một trong những nội dung cốt lõi của pháp luật TGPL là xác định diện người được hưởng TGPL. Qua nghiên cứu pháp luật của nhiều quốc gia, có thể nhận thấy điểm chung là TGPL chủ yếu hướng tới những người không có hoặc không đủ khả năng tài chính để chi trả dịch vụ pháp lý, cũng như những nhóm người yếu thế cần được bảo vệ đặc biệt nhằm bảo đảm công lý thực chất.
Ở nhiều quốc gia, người nghèo là đối tượng trung tâm, thậm chí là đối tượng duy nhất được TGPL, như tại Indonesia, Hà Lan, Nam Phi, Campuchia hay Nhật Bản (trong lĩnh vực dân sự). Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm phổ biến coi TGPL là trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho những người không có khả năng thuê luật sư hoặc sử dụng các dịch vụ pháp lý có thu phí.
Bên cạnh đó, pháp luật của nhiều nước còn mở rộng TGPL cho các nhóm người yếu thế khác như người khuyết tật, người chưa thành niên, nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của mua bán người, người cao tuổi… Đây là những nhóm đối tượng có hạn chế nhất định về khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, do đó cần sự hỗ trợ pháp lý từ Nhà nước.
Tại Việt Nam, quá trình xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đặt ra nhiều ý kiến khác nhau về việc mở rộng diện người được TGPL. Trên cơ sở cân nhắc các yếu tố chính trị, pháp lý và điều kiện kinh tế – xã hội, Quốc hội đã lựa chọn cách tiếp cận có trọng tâm, trọng điểm, vừa bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phản ánh đặc thù chính sách của Việt Nam. Theo đó, pháp luật hiện hành quy định diện người được TGPL bao gồm người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, người bị buộc tội trong một số trường hợp nhất định, cũng như các nhóm người yếu thế có khó khăn về tài chính như người cao tuổi, người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân mua bán người, người nhiễm HIV…
Có thể khẳng định rằng, xét về bản chất, diện người được TGPL theo pháp luật Việt Nam hiện nay đã cơ bản tương đồng với cách tiếp cận của nhiều quốc gia, đó là tập trung vào những người không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những nhóm đối tượng yếu thế cần được bảo vệ đặc biệt.
4. Sự tiệm cận về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý
Pháp luật của các quốc gia quy định đa dạng về chủ thể thực hiện TGPL, song có thể khái quát thành ba nhóm chủ yếu: luật sư nhân viên của tổ chức TGPL, luật sư hành nghề tự do tham gia theo hợp đồng và các chủ thể không phải luật sư nhưng có kiến thức pháp luật.
Luật sư nhân viên (còn được gọi là luật sư công, luật sư nhà nước) là mô hình phổ biến tại nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Israel, Hàn Quốc, Nam Phi… Đây là những luật sư được tuyển dụng làm việc chuyên nghiệp tại các tổ chức TGPL, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và thực hiện TGPL theo sự phân công. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia cho phép luật sư hành nghề tự do tham gia TGPL thông qua cơ chế hợp đồng, với việc chi trả thù lao theo vụ việc hoặc theo thời gian làm việc, qua đó huy động hiệu quả nguồn lực xã hội trong cung cấp dịch vụ TGPL.
Ngoài ra, một số quốc gia còn cho phép các chủ thể không phải luật sư nhưng có trình độ pháp luật nhất định tham gia TGPL trong phạm vi hạn chế, chủ yếu dưới các hình thức tư vấn, hòa giải, cung cấp thông tin pháp luật.
Tương đồng với các quy định nêu trên, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 của Việt Nam quy định người thực hiện TGPL bao gồm Trợ giúp viên pháp lý – lực lượng chuyên nghiệp do Nhà nước tuyển dụng và trả lương – cùng với các chủ thể tham gia TGPL như luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên TGPL. Đáng chú ý, trình độ của Trợ giúp viên pháp lý đã tương đồng với tiêu chuẩn luật sư, thông qua yêu cầu tập sự nghề nghiệp nhằm bảo đảm năng lực chuyên môn và kỹ năng hành nghề.
Xét về bản chất, Trợ giúp viên pháp lý ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với mô hình luật sư công tại các quốc gia khác. Tuy nhiên, do pháp luật về luật sư chưa ghi nhận chế định luật sư công, Trợ giúp viên pháp lý vẫn mang tính “đặc thù” về mặt tên gọi. Trong thời gian tới, việc nghiên cứu, hoàn thiện chế định luật sư công/luật sư nhà nước có thể là một hướng đi nhằm tăng cường mức độ tiệm cận với thông lệ quốc tế.
5. Sự tiệm cận về bảo đảm tiếp cận sớm với trợ giúp pháp lý
Tiếp cận sớm với TGPL, đặc biệt trong tố tụng hình sự, là một trong những chuẩn mực quan trọng của pháp luật và thông lệ quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người, phòng ngừa oan, sai. Các nghiên cứu quốc tế đều chỉ ra rằng, những giờ đầu hoặc ngày đầu của quá trình bắt giữ, tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa quyết định đối với quyền và lợi ích của người bị buộc tội. Nhiều người trong số những người bị bắt hoặc bị tạm giam là người nghèo, người có trình độ giáo dục thấp hoặc người có hoàn cảnh thiệt thòi vì một số lý do khác. Họ thường thiếu kiến thức hoặc kinh nghiệm cần thiết để hiểu và vận dụng hệ thống tư pháp hình sự và cũng có nguồn lực tài chính hạn chế để có thể tận dụng hiệu quả hệ thống này. Luật mẫu về trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy quốc tế soạn thảo có 01 điều (Điều 8) quy định về việc tiếp cận sớm với trợ giúp pháp lý
[1].
Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 bảo đảm trong giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, người bị tạm giam, tạm giữ được tiếp cận sớm với TGPL, cụ thể: Trường hợp người được trợ giúp pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giữ yêu cầu cử người thực hiện trợ giúp pháp lý, trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm thụ lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người thực hiện trợ giúp pháp lý. Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương.