Cần nghiên cứu sửa đổi chế định Trợ giúp pháp lý trong luật sư sửa đổi để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam

25/01/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Ngày 26/9/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 về Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó có sửa đổi Luật Luật sư để trình Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10 năm 2026). Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 phân công Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Luật sư (sửa đổi). Để giúp Bộ Tư pháp trong quá trình xây dựng dự án Luật Luật sư (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 3665/QĐ-BTP ngày 24/12/2025 thành lập Tổ soạn thảo dự án Luật Luật sư (sửa đổi). Phiên đầu tiên của Tổ soạn thảo được tổ chức vào ngày 23/01/2026 tại trụ sở Bộ Tư pháp do Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp Lê Xuân Hồng, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Phan Chí Hiếu, chủ trì với sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan ở trung ương và địa phương.

Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về cải cách pháp luật và tư pháp, sau khi rà soát các quy định pháp luật có liên quan và tổng kết thực tiễn thi hành Luật Luật sư, đa số các thành viên Tổ soạn thảo nhất trí với dự kiến trình Chính phủ 03 nhóm chính sách lớn sửa đổi Luật Luật sư, cụ thể như sau:
(i) Xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn; hoàn thiện cơ chế đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề của luật sư;
(ii)  Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy tổ chức hành nghề luật sư hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và chủ trương phát triển kinh tế tư nhân;
(iii) Đổi mới quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư theo hướng hiệu lực, hiệu quả, thực hiện phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số; nâng cao năng lực, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
          Tại cuộc họp, nhiều ý kiến trao đổi nhằm phân tích, làm rõ, bổ sung các chính sách để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi.
Riêng góc độ trợ giúp pháp lý có thể thấy rằng, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã được ban hành trước khi có Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Do đó, một số quy định của Luật Luật sư về việc luật sư tham gia trợ giúp pháp lý, các trường hợp miễn, giảm đào tạo nghề luật sư chưa thật sự phù hợp với thực tiễn hiện nay cũng như định hướng mới của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi toàn diện Luật Luật sư lần này là cơ hội quan trọng để thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về việc vừa tăng cường quản lý của các cơ quan chức năng, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của luật sư, trong đó chú trọng nâng cao tiêu chuẩn chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ của luật sư; hoàn thiện cơ chế khuyến khích luật sư tham gia tích cực vào hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách và các công tác xã hội khác[1]; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hoạt động trợ giúp pháp lý và cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư.
 
Cần nghiên cứu sửa đổi một số quy định của Luật Luật sư đồng bộ với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017: 
Thứ nhất, cần phân định rõ khái niệm "Dịch vụ pháp lý", "Trợ giúp pháp lý" và “Hỗ trợ pháp lý”. Thực tiễn thi hành Luật Luật sư và Luật Trợ giúp pháp lý cho thấy, có nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa các khái niệm này. Việc phân định các khái niệm này không chỉ dựa chủ thể cung cấp dịch vụ và đối tượng nhận dịch vụ pháp lý mà còn phải dựa vào bản chất, mục đích và yêu cầu của các hoạt động này. Việc xác định rõ nội hàm của các khái niệm này sẽ giúp minh bạch hóa thị trường dịch vụ pháp lý, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người được trợ giúp, tránh nhầm lẫn hoặc lợi dụng chính sách trợ giúp pháp lý.
Thứ hai, thống nhất về tiêu chuẩn và đào tạo nghề: Theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2017, Trợ giúp viên pháp lý là viên chức, có trình độ cử nhân luật trở lên, đã qua đào tạo nghề luật sư (hoặc miễn đào tạo nghề luật sư), qua tập sự luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo các hình thức tương tự như luật sư: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng. Do đó, để bảo đảm tính đồng bộ với Luật Trợ giúp pháp lý 2017, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cần bổ sung quy định cho phép người đã từng là trợ giúp viên pháp lý (khi không còn là trợ giúp pháp lý nữa) được trở thành luật sư mà không phải đào tạo lại nghề luật sư và tập sự luật sư.
Thứ ba, mở rộng hình thức hành nghề của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý: Hiện nay, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân còn gặp hạn chế khi muốn tham gia hỗ trợ và trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế ngoài tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi theo hướng cho phép luật sư hành nghề cá nhân được cung cấp dịch vụ pháp lý cho tổ chức, cá nhân khác nếu được tổ chức đang làm việc đồng ý, tận dụng tối đa nguồn lực luật sư có chuyên môn, có kinh nghiệm cho công tác trợ giúp pháp lý.[2]
Thứ tư, tăng cường vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp: Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước để giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sư. [3] Do đó, Luật Luật sư (sửa đổi) cần quy định rõ hơn trách nhiệm của các tổ chức này trong việc giám sát luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý.
Như vậy, nghiên cứu chế định trợ giúp pháp lý trong quá trình sửa đổi Luật Luật sư không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật lập pháp nhằm bảo đảm tính thống nhất với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng để thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về bảo vệ công lý và hỗ trợ những người thuộc nhóm “yếu thế” trong việc tiếp cận pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Việc hoàn thiện các chính sách sửa đổi Luật Luật sư sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thu hút đội ngũ luật sư giỏi tham gia vào hoạt động luật sư và hoạt động trợ giúp pháp lý, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân./.
 
Vũ Thị Hường
Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Kết luận số 69-KL/TW và Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh việc hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút luật sư tham gia trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số.
[2] Theo Luật luật sư hiện hành, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động. Trong khi đó, luật sư làm việc tại Trung tâm tư vấn pháp luật theo Nghị định số 77/2008/NĐ-CP của Chính phủ được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động.  
[3]  Điều 43 Luật Trợ giúp pháp lý quy định: Liên đoàn Luật sư Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, luật sư theo quy định của Luật
 

Xem thêm »