Một số nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp ly

07/05/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là chính sách có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm công bằng, bình đẳng trước pháp luật, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế trong xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng quan trọng nhằm phát triển hệ thống TGPL theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và dễ tiếp cận. Nổi bật là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 đã đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, TGPL…”; “Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống… TGPL…”; “Ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL, …”; “Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.”. Đồng thời, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, các thiết chế trong lĩnh vực TGPL”.

Cùng với việc triển khai Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về TGPL càng trở nên cấp thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở kế thừa Luật TGPL năm 2017 và tổng kết thực tiễn thi hành, việc sửa đổi, bổ sung Luật TGPL lần này là bước đi quan trọng nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân và “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (sau đây gọi là Luật), với tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật TGPL số 05/2026/QH16 gồm 03 Điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 24 Điều, bãi bỏ 02 Điều); Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành. Luật TGPL số 05/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
Bài viết xin giới thiệu một số điểm mới của Luật như sau:
1. Mở rộng diện người được TGPL
Đây là nội dung thu hút nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia góp ý dự thảo Luật sửa đổi. Đây cũng là vấn đề các đại biểu Quốc hội thảo luận nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật. Trải qua nhiều vòng lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý ý kiến của các đại biểu Quốc hội, cùng với ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, Luật cho thấy phương châm cốt lõi trong việc xác định diện người được TGPL là phải dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí rõ ràng, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật hiện hành và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Theo đó, quy định về người được TGPL trong Luật tiếp tục kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật TGPL năm 2017 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được TGPL của những người dễ bị tổn thương trong xã hội. Bên cạnh đó, việc xác định diện người được trợ giúp pháp lý cũng dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (chính sách giảm nghèo, hính sách ưu đãi người có công, chính sách dân tộc…) và điều kiện của đất nước. Luật quy định rõ từng nhóm đối tượng, với những tiêu chí cụ thể để bảo đảm tính minh bạch và thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. So với Luật TGPL năm 2017, diện người được TGPL đã được mở rộng, cụ thể như sau:
- 07 nhóm người được kế thừa hoàn toàn từ quy định hiện hành là:
+ Người thuộc hộ nghèo;
+  Người có công với cách mạng;
+ Trẻ em;
+ Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
+ Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.
- 03 nhóm người được kế thừa và mở rộng theo hướng được TGPL không phụ thuộc vào yếu tố khó khăn tài chính là:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ;
+ Người nhiễm chất độc da cam;
+ Người khuyết tật;
- 02 nhóm người không quy định theo tiêu chí trung gian “có khó khăn về tài chính” mà được mở rộng và quy định trực tiếp gắn với điều kiện cụ thể của từng nhóm; đó là:
+ Người thuộc hộ cận nghèo;
+ Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
- 05 nhóm người được bổ sung mới hoàn toàn là:
+ Người dân tộc thiểu số rất ít người;
+ Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.
+ Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này.
+ Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
+ Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, Luật TGPL bổ sung quy định “Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật” nhằm tạo sự linh hoạt, bảo đảm kha năng bao quát các đối tượng được TGPL phát sinh trong tương lai.
Có thể thấy việc bổ sung các nhóm đối tượng mới và mở rộng một số nhóm theo hướng không phụ thuộc vào điều kiện tài chính đã góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận công lý, bảo đảm TGPL kịp thời cho những trường hợp thực sự cần thiết trong thực tiễn. Qua đó, Luật TGPL tiếp tục khẳng định vai trò là công cụ quan trọng bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
2. Luật hóa cơ chế phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi là luật hóa cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, qua đó nâng tầm một cơ chế đang được vận hành hiệu quả trong thực tiễn lên thành quy định có giá trị pháp lý cao trong văn bản luật. Cụ thể, Điều 41 sửa đổi, bổ sung quy định:
Điều 41. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.
3. Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.”.
Thực tế gần 20 năm qua cho thấy, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức thực hiện TGPL đã góp phần bảo đảm người thuộc diện đượcTGPL có thể tiếp cận dịch vụ kịp thời ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, nhằm hạn chế bỏ sót đối tượng và nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc.
Việc luật hóa cơ chế trực TGPL tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành mang lại nhiều lợi ích thiết thực: trước hết, nâng cao giá trị pháp lý, bảo đảm tính ổn định, thống nhất và lâu dài của cơ chế phối hợp; đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan trong việc bảo đảm quyền được TGPL, đặc biệt khi các cơ quan tư pháp (Toà án, Viện kiểm sát) có tính độc lập cao. Bên cạnh đó, việc quy định ở cấp luật còn tạo điều kiện để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, bảo đảm cơ chế này được triển khai nghiêm túc, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc. Đáng chú ý, quy định mới kế thừa mô hình đã vận hành hiệu quả, không làm phát sinh tổ chức bộ máy mới, không làm tăng biên chế, phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy nhà nước. Qua đó, Luật không chỉ củng cố một thiết chế phối hợp liên ngành có tính pháp lý cao, vận hành xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, mà còn góp phần nâng cao chất lượng TGPL trong tố tụng, bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội.
3. Không còn quy định giới hạn điều kiện đối với việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL  nhà nước
Để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, Luật đã bỏ quy định về điều kiện địa bàn thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước ở “các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL”. Điều kiện thành lập Chi nhánh được quy định theo hướng mở, đó là “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương” Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh, nhằm trao quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương chủ động quyết định thành lập Chi nhánh, thực hiện triệt để nguyên tắc "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm". Sự điều chỉnh này đã tạo điều kiện để Chi nhánh – “cánh tay nối dài” của Trung tâm, được bố trí linh hoạt hơn theo đặc thù từng địa bàn, qua đó bảo đảm người dân, đặc biệt là người thuộc diện được TGPL được tiếp cận dịch vụ TGPL kịp thời, liên tục, không bị gián đoạn trong bối cảnh nhiều địa phương có phạm vi quản lý rộng, điều kiện địa lý, giao thông đi lại khác nhau, quy mô dân số lớn và cơ cấu dân cư đa dạng.
4. Hoàn thiện tiêu chuẩn và cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm trợ giúp viên pháp lý
Một trong những nội dung được sửa đổi, bổ sung quan trọng của Luật lần này là hoàn thiện quy định về bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý và miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý theo hướng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.
Đối với điều kiện tập sự, để phát huy nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm, Luật quy định một trong những tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý là “Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý” . Đây là điểm mới hợp lý, thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở thực tiễn quản lý đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong thời gian qua. Theo quy định trước đây, mọi trường hợp khi được xem xét bổ nhiệm đều phải đáp ứng điều kiện về tập sự, kể cả những người đã từng là trợ giúp viên pháp lý nhưng vì lý do công tác đã chuyển sang vị trí khác, sau đó quay trở lại làm trợ giúp pháp lý. Điều này dẫn đến bất cập khi yêu cầu tập sự lại đối với những người đã có kinh nghiệm thực tiễn, đã từng trực tiếp thực hiện TGPL, gây lãng phí thời gian, nguồn lực.
Luật đã bổ sung, cụ thể hóa các trường hợp không được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý theo hướng rõ ràng hơn. Cụ thể, để được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý thì bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý (quy định tại Điều 19) thì không được thuộc một trong các trường hợp:
- Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
 Quy định này nhằm nâng cao tiêu chuẩn đầu vào, bảo đảm đội ngũ trợ giúp viên pháp lý có phẩm chất đạo đức, uy tín và năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Bên cạnh đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, Luật bổ sung một số trường hợp cụ thể là căn cứ miễn nhiệm và thu hồi thẻ, như bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc.
Để thời gian tới tiếp tục duy trì đội ngũ trợ giúp viên pháp lý có năng lực, bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL cung cấp cho người yếu thế, Luật đã siết chặt hơn khi quy định trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ khi không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 12 tháng liên tục (Luật TGPL năm 2017 quy định trong 02 năm liên tục); hoặc khi bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại khoản 1 Điều 6 Luật TGPL năm 2017 (Luật TGPL năm 2017 quy định bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý). Những quy định này góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời bảo đảm cơ chế sàng lọc, duy trì chất lượng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý.
Ngoài ra, Luật bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị. Đối với các trường hợp như chuyển công tác khác, thôi việc, cho thôi việc hoặc nghỉ hưu, thì đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý không còn giá trị. Như vậy, các trường hợp này không phải thực hiện thủ tục xem xét, quyết định thu hồi thẻ như trước đây; nhằm giảm bớt các thủ tục không cần thiết.
 5. Tiếp tục mở rộng giải pháp thu hút nguồn lực xã hội có chất lượng tham gia thực hiện TGPL
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật là sửa đổi quy định về cộng tác viên TGPL, theo hướng vừa mở rộng nguồn lực, vừa tăng cường kiểm soát chất lượng.
Trước hết, Luật đã mở rộng theo hướng không giới hạn địa bàn có thể đăng ký làm cộng tác viên TGPL (Luật TGPL năm 2017 quy định cộng tác viên TGPL chỉ có thể ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và căn cứ nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện thực tế tại địa phương). Cách tiếp cận mới này không chỉ giúp tăng tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện mà còn tạo điều kiện để người dân ở nhiều khu vực khác nhau được tiếp cận dịch vụ TGPL thuận lợi hơn.
Đồng thời, Luật cũng hướng tới việc tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực có kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật trong xã hội. Bên cạnh các chức danh quen thuộc là người đã nghỉ hưu như trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên…, Luật đã mở rộng đáng kể các nhóm đối tượng có thể trở thành cộng tác viên TGPL, bao gồm cả những người đã từng là cộng tác viên trợ giúp pháp lý; người đã nghỉ hưu là người giữ hạng, ngạch chuyên viên chính và tương đương trở lên làm công tác pháp luật, người giữ hạng, ngạch chuyên viên và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Bổ sung quy định viên chức giữ hạng III và tương đương làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên hoặc viên chức giữ hạng I, hạng II và tương đương làm công tác pháp luật cũng được trở thành cộng tác viên TGPL khi được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc.
Có thể thấy rằng, quy định mới đã tạo cơ chế mở rộng nhưng có chọn lọc, vừa huy động được nguồn nhân lực pháp lý có chất lượng trong xã hội, vừa bảo đảm yêu cầu về tiêu chuẩn, điều kiện đối với cộng tác viên TGPL. Điều này không chỉ góp phần mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ TGPL trên phạm vi rộng hơn, mà còn nâng cao chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân trong thực tiễn.
Ngoài ra, Luật đã mở rộng hình thức thực hiện TGPL đối với cộng tác viên TGPL khi quy định chủ thể này, bên cạnh trợ giúp viên pháp lý và luật sư, được thực hiện vụ việc TGPL đại diện ngoài tố tụng. Việc cho phép cộng tác viên TGPL thực hiện vụ việc đại diện ngoài tố tụng góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL của người dân trong các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL ngay từ giai đoạn sớm, hạn chế phát sinh tranh chấp phải đưa ra giải quyết tại cơ quan tố tụng.
6. Hoàn thiện cơ chế cấp thẻ, thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL
Luật đã có bước hoàn thiện quan trọng trong cơ chế quản lý đội ngũ cộng tác viên TGPL, đặc biệt là quy định về cấp và thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL theo hướng đồng bộ, chặt chẽ, minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Luật đã bổ sung các trường hợp không được cấp thẻ cộng tác viên TGPL. Cụ thể, để được cấp thẻ cộng tác viên TGPL, bên cạnh việc đáp ứng tiêu chuẩn luật định (quy định tại khoản 1 Điều 24) thì không được thuộc một trong các trường hợp sau:
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý;
- Đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; viên chức đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật.
Luật quy định các trường hợp thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL đầy đủ, rõ ràng  hơn, tương đồng với điều kiện được cấp thẻ và mang tính “sàng lọc thường xuyên”. Theo đó, cộng tác viên TGPL sẽ bị thu hồi thẻ không chỉ khi người đó không còn đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện, mà còn trong các trường hợp phát sinh trong quá trình hoạt động. Cụ thể: Thu hồi thẻ trong các trường hợp cộng tác viên không tham gia thực hiện vụ việc TGPL trong thời gian 02 năm liên tục (lưu ý, Nghị định số 144/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định thu hồi thẻ đối với trường hợp không thực hiện TGPL trong thời gian 02 năm liên tục); vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TGPL nhưng chưa đến mức bị thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL mà tiếp tục có hành vi vi phạm; hợp đồng cộng tác viên TGPL bị chấm dứt hoặc không thực hiện nghĩa vụ ký kết trong thời hạn theo quy định, cũng như khi bị xử lý kỷ luật nghiêm trọng, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; bị kết án theo bản án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, với việc hoàn thiện đồng bộ từ điều kiện cấp thẻ đến các trường hợp thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL, Luật đã thiết lập cơ chế quản lý cộng tác viên TGPL theo hướng chặt chẽ, liên tục và bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động hơn. Quy định này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, trách nhiệm của đội ngũ cộng tác viên TGPL mà còn bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động TGPL, qua đó phục vụ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL.
7. Tăng cường trách nhiệm của UBND cấp xã trong hoạt động TGPL
Luật đã bổ sung quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác TGPL[1]. Việc luật hoá nội dung này trong Luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực pháp lý và tính thống nhất trong tổ chức thực hiện. Theo đó, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã không chỉ dừng lại ở việc “giới thiệu” mang tính khuyến nghị như trước đây mà đã được xác lập rõ ràng trong luật, trở thành một nhiệm vụ chính thức, thường xuyên trong quá trình thực thi công vụ ở cơ sở. Quy định này góp phần phát huy vai trò của cấp chính quyền gần dân nhất trong việc phát hiện, tiếp cận và hướng dẫn kịp thời người thuộc diện được TGPL. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để tăng cường trách nhiệm, sự chủ động của chính quyền cấp xã, bảo đảm quyền được TGPL của người dân được thực hiện một cách thực chất, hiệu quả ngay từ cơ sở.
8. Tăng cường trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong hoạt động TGPL
Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 42 quy định rõ hơn trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác TGPL. Lần đầu tiên vai trò giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về TGPL của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được ghi nhận trực tiếp trong luật, qua đó khẳng định vị trí của tổ chức này không chỉ là chủ thể phối hợp mà còn là lực lượng tham gia bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách.
9. Bổ sung quy định về chuyển vụ việc TGPL
Luật tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được TGPL của người dân với một điểm mới thiết thực: bổ sung quy định về chuyển vụ việc TGPL giữa các Trung tâm TGPL nhà nước. Quy định này xuất phát từ thực tiễn nhiều vụ việc tham gia tô tụng được chuyển địa bàn giải quyết, người thực hiện TGPL ban đầu có thể phải mất nhiều thời gian đi lại, chi phí cao. Theo quy định mới, khi một vụ việc TGPL đã được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương khác giải quyết, Trung tâm TGPL đang thực hiện có thể chủ động chuyển vụ việc cho Trung tâm tại địa phương nơi cơ quan tiến hành tố tụng đang giải quyết. Đồng thời, việc chuyển này phải được thông báo để người được TGPL biết, bảo đảm tính minh bạch và quyền được thông tin của người dân. Điểm mới này tạo điều kiện để người thực hiện TGPL tiếp cận vụ việc thuận lợi hơn, bám sát quá trình giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó nâng cao chất lượng tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đồng thời góp phần tối ưu hóa nguồn lực giữa các Trung tâm, phát huy hiệu quả mạng lưới TGPL trên phạm vi cả nước.
10. Cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính
Một trong những điểm mới của Luật là thiết kế theo hướng ngắn gọn, làm rõ và mở rộng các nguyên tắc, chính sách lớn; đồng thời, những vấn đề mang tính quy trình, trình tự, thủ tục được giao cho Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của từng giai đoạn.
Cụ thể, một số nội dung trước đây được luật hoá cụ thể trong Luật TGPL năm 2017 như: hồ sơ bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý (khoản 2 Điều 21); thời hạn xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý (khoản 4 Điều 21); hồ sơ, quy trình miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý (Điều 22); thời hạn cử người thực hiện trợ giúp pháp lý trong các vụ việc: tư vấn pháp luật (khoản 2 Điều 32), đại diện ngoài tố tụng (khoản 2 Điều 33); quy trình phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 34); quy trình giải quyết kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý (Điều 36), quy trình giải quyết khiếu nại tố cáo (Điều 45) hiện nay đã được điều chỉnh theo hướng tinh gọn hơn, không quy định cứng trong luật mà giao Chính phủ hoặc là Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết. Có thể nói rằng, Luật là minh chứng rõ nét cho việc quán triệt và cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW trong hoạt động lập pháp, đồng thời phù hợp với chỉ đạo “cơ bản không quy định thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ trong luật mà giao Chính phủ, các bộ quy định theo thẩm quyền nhưng không được đặt thêm thủ tục hành chính, phát sinh thêm giấy phép con so với hiện hành” tại Kết luận 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật và Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị. 
11. Ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong TGPL
Luật đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong việc hiện đại hóa hoạt động TGPL, khi lần đầu tiên nội dung ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được quy định một cách toàn diện, có hệ thống ngay trong luật. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, mà còn là giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế.
Theo quy định mới, Bộ Tư pháp được giao vai trò đầu mối, chủ trì triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động TGPL; đồng thời xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu TGPL. Đáng chú ý, dữ liệu TGPL sẽ được kết nối, tích hợp, chia sẻ với Cổng Pháp luật quốc gia, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ, góp phần hình thành “hệ sinh thái số” trong lĩnh vực TGPL.
Không chỉ dừng lại ở cấp Trung ương, Luật còn đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan tiến hành tố tụng  trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu TGPL. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp để bảo đảm dữ liệu TGPL tại địa phương được kết nối, liên thông với hệ thống chung; các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan liên quan trong tố tụng cũng có trách nhiệm tham gia vào quá trình này. Thông qua những quy định này đã hình thành mạng lưới dữ liệu liên thông, phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành cũng như hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và dịch vụ TGPL một cách nhanh chóng, thuận tiện.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong Luật không chỉ giúp nâng cao tính công khai, minh bạch, giảm thủ tục hành chính mà còn tạo điều kiện để người dân, ở bất kỳ đâu, có thể tiếp cận dịch vụ TGPL một cách dễ dàng hơn. Đây là bước tiến quan trọng góp phần đưa chính sách TGPL đến gần hơn với người dân, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ số, xã hội số và bảo đảm quyền tiếp cận công lý trong kỷ nguyên số.
Tóm lại, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL không chỉ tập trung khắc phục những bất cập của quy định hiện hành mà còn thể hiện rõ tư duy đổi mới trong công tác xây dựng pháp luật, góp phần thể chế hóa kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng. Với việc mở rộng diện người được TGPL, hoàn thiện thể chế, tăng cường phân cấp, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đẩy mạnh chuyển đổi số, Luật đã tạo lập một nền tảng pháp lý đồng bộ, hiện đại và linh hoạt hơn cho hoạt động TGPL trong giai đoạn mới. Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, góp phần bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân trong kỷ nguyên mới của đất nước./.
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
 

[1] Hiện nay, khoản 12 Điều 2 của Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 28/8/2018 là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến công dân, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến Trung tâm.

Xem thêm »