Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Khơi thông “dòng chảy pháp luật” giữa đại ngàn

14/01/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật giữ vai trò là “xương sống” điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm kỷ cương, công bằng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), khoảng cách từ các quy định pháp luật đến nhận thức và hành vi của người dân vẫn là một bài toán khó. Rào cản về ngôn ngữ, trình độ tiếp cận thông tin, điều kiện kinh tế - xã hội và một số tập quán lạc hậu đã tạo nên những “vùng trũng” về nhận thức pháp luật.

Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025, không chỉ hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và củng cố niềm tin của đồng bào đối với chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để pháp luật không còn là những quy định khô khan, xa lạ mà trở thành kim chỉ nam cho đời sống, sản xuất và phát triển bền vững của đồng bào.
Bức tranh thực trạng: Những con số biết nói
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó 53 dân tộc thiểu số có khoảng 14,1 triệu người, chiếm hơn 14,7% dân số cả nước. Các kết quả điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số cho thấy những chuyển biến tích cực nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL):
Về giảm nghèo: tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS giảm nhanh, song vẫn cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung; một số nhóm dân tộc, địa bàn đặc biệt khó khăn vẫn có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo ở mức cao.
Về giáo dục và tiếp cận thông tin: tỷ lệ người DTTS biết đọc, biết viết chữ phổ thông đã được cải thiện, nhưng còn chênh lệch giữa các vùng, nhóm dân tộc; ở một số nơi, khả năng tiếp cận văn bản pháp luật bằng tiếng Việt vẫn còn hạn chế.
Về hôn nhân, gia đình và bình đẳng giới: tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống vẫn diễn ra ở một số địa bàn, kéo theo nhiều hệ lụy về sức khỏe, chất lượng dân số, học tập, việc làm và bình đẳng giới.
Những con số này cho thấy, khi đời sống còn nhiều khó khăn và rào cản ngôn ngữ chưa được khắc phục triệt để, việc tiếp cận các đạo luật như Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lâm nghiệp hoặc các chính sách về an sinh xã hội không thể chỉ dừng ở việc truyền đạt văn bản, mà cần được chuyển hóa thành thông tin dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng trong đời sống hằng ngày.
Thách thức và cơ hội tại “vùng lõi nghèo”
Vùng đồng bào DTTS thường có địa hình chia cắt, hạ tầng giao thông còn khó khăn, đời sống người dân gắn với nương rẫy, rừng, nguồn nước và các phong tục đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy, công tác PBGDPL phải được triển khai trên nền tảng hiểu biết sâu sắc về văn hóa, phong tục và nhu cầu pháp lý thực tế của đồng bào.
Khi tập quán “lấn át” pháp luật
Ở một số nơi, tình trạng “pháp luật đi sau tập quán” vẫn còn hiện hữu. Nhiều hủ tục, thói quen ứng xử truyền thống trở thành “luật bất thành văn” của bản làng và có thể làm phát sinh vi phạm hoặc tranh chấp:
Trong hôn nhân, gia đình: quan niệm “lấy vợ, lấy chồng sớm để có thêm lao động” có thể dẫn tới tảo hôn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền trẻ em, quyền học tập và sức khỏe sinh sản.
Trong quản lý đất đai, tài nguyên: thói quen thỏa thuận miệng, canh tác theo tập quán, phát nương làm rẫy hoặc khai thác rừng thiếu kiểm soát có thể dẫn tới tranh chấp, vi phạm quy định về đất đai, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường.
Trong chăm sóc sức khỏe: một số quan niệm lạc hậu về chữa bệnh bằng cúng bái, không đến cơ sở y tế kịp thời có thể gây hệ lụy nghiêm trọng về sức khỏe, kinh tế và an sinh gia đình.
Hình ảnh minh họa về cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nguồn: Internet.

“Chất xúc tác” từ chính sách và chuyển đổi số
Dù còn nhiều khó khăn, công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS đang đứng trước những cơ hội mới. Hạ tầng viễn thông, internet, điện thoại thông minh và mạng xã hội đã mở thêm “con đường nhanh” đưa thông tin pháp luật, chính sách hỗ trợ đến tận thôn, bản. Cùng với đó, Chương trình mục tiêu quốc gia theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg tạo nguồn lực để các địa phương lồng ghép hoạt động truyền thông chính sách, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ sinh kế cho người dân.
Khi người dân nhận thấy hiểu biết pháp luật giúp họ tiếp cận đúng chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, tín dụng ưu đãi, y tế, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, họ sẽ chủ động hơn trong tìm hiểu, hỏi đáp và thực hiện pháp luật.
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền: Từ “nghe” đến “hiểu” và “làm theo”
Để đạt hiệu quả thực chất, PBGDPL cần được triển khai bằng những phương thức gần gũi, nhân văn, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn và từng vấn đề pháp lý cụ thể.
Ngôn ngữ bản địa và hình ảnh hóa thông tin
Thay vì đọc nguyên văn điều luật, cán bộ tuyên truyền cần sử dụng ngôn ngữ giản dị, ví dụ thực tế, tiếng dân tộc ở những nơi cần thiết và hình ảnh trực quan. Sổ tay pháp luật dạng tranh, tờ gấp song ngữ, infographic, video ngắn hoặc tiểu phẩm tình huống về đăng ký khai sinh, hôn nhân, đất đai, bảo hiểm y tế, phòng chống tảo hôn, phòng chống mua bán người... sẽ giúp đồng bào dễ tiếp nhận hơn.
Mô hình “dân vận khéo”: Sức mạnh của người có uy tín
Trong cộng đồng DTTS, già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người có uy tín có tiếng nói quan trọng. Sự tham gia của họ giúp chuyển tải pháp luật bằng ngôn ngữ của cộng đồng, bằng uy tín cá nhân và bằng những câu chuyện gần gũi. Một cán bộ tư pháp nói về bảo vệ rừng có thể giúp người dân hiểu quy định; nhưng khi già làng nhấn mạnh “giữ rừng là giữ nước, giữ sinh kế và giữ tương lai cho con cháu”, thông điệp pháp luật sẽ có sức lan tỏa sâu hơn.
Vì vậy, cần tiếp tục bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng truyền thông, kỹ năng phát hiện nhu cầu trợ giúp pháp lý cho đội ngũ người có uy tín, hòa giải viên, tuyên truyền viên pháp luật và cán bộ cơ sở, để họ trở thành “cầu nối” giữa chính sách, pháp luật với đời sống bản làng.
Ứng dụng công nghệ số: “Pháp luật trong lòng bàn tay”
Tận dụng sự phổ biến của điện thoại thông minh, các địa phương có thể duy trì nhóm Zalo thôn, bản; phát hành bản tin pháp luật ngắn; sản xuất video bằng tiếng dân tộc; tổ chức hỏi - đáp pháp luật trực tuyến; đồng thời kết hợp loa truyền thanh cơ sở vào khung giờ phù hợp với sinh hoạt của người dân. Chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi thông tin pháp luật được thiết kế ngắn gọn, dễ tìm, dễ hiểu và có địa chỉ hỗ trợ cụ thể khi người dân cần được tư vấn, trợ giúp.
Pháp luật là nền tảng của phát triển bền vững
PBGDPL không phải là công việc “một sớm một chiều”, mà là quá trình bền bỉ, kiên trì theo phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giúp người dân biết quy định, mà còn hình thành thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật.
Mục tiêu Ý nghĩa đối với đồng bào DTTS
Bảo vệ quyền lợi Giúp người dân nhận biết quyền, nghĩa vụ và tự bảo vệ mình trước các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, tín dụng đen, mua bán người hoặc xâm phạm quyền lợi hợp pháp.
Ổn định xã hội Góp phần giảm khiếu kiện, tranh chấp đất đai, mâu thuẫn gia đình, vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội tại địa phương.
Phát triển kinh tế Giúp người dân hiểu đúng chính sách hỗ trợ của Nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn lực, vốn vay và từng bước thoát nghèo bền vững.
 
Khi nhận thức pháp luật được nâng lên, đồng bào DTTS không chỉ là đối tượng được tuyên truyền, hỗ trợ, mà còn trở thành chủ thể tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ biên giới, giữ gìn an ninh trật tự, phát triển sinh kế và xây dựng nông thôn mới. Quyết định số 1719/QĐ-TTg tạo ra “đòn bẩy” về nguồn lực; còn hiểu biết pháp luật chính là điều kiện để nguồn lực đó được tiếp cận đúng, sử dụng đúng và phát huy hiệu quả lâu dài.
Một xã hội ổn định, công bằng là xã hội mà ở đó mỗi người dân - dù ở thành thị hay nơi biên viễn - đều cảm nhận được pháp luật đang bảo vệ chính mình. Thu hẹp khoảng cách pháp lý tại vùng đồng bào DTTS không chỉ là nhiệm vụ của ngành Tư pháp, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Khi “dòng chảy pháp luật” được khơi thông, dòng chảy ấy sẽ hòa cùng dòng chảy phát triển, mang lại diện mạo mới cho bản làng: văn minh hơn, giàu đẹp hơn, bình yên hơn và không ai bị bỏ lại phía sau.
Pháp luật, suy cho cùng, không chỉ để xử lý vi phạm, mà còn để kiến tạo phát triển, bảo vệ con người và củng cố niềm tin xã hội.
Tùng Dương
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

Xem thêm »