Một số lưu ý trong đánh giá chỉ tiêu về cung cấp thông tin theo yêu cầu khi đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg

22/05/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Hiện nay, việc đánh giá, công nhận xã, phường, đặc khu (cấp xã) đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được thực hiện theo Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và Thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg. Điều 4 của Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg quy định các tiêu chí tiếp cận pháp luật gồm 03 tiêu chí và 14 chỉ tiêu, tập trung vào những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành Tư pháp. Trong đó, Tiêu chí 2 về “Tiếp cận thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật”, có 03 chỉ tiêu liên quan đến tiếp cận thông tin gồm: Chỉ tiêu 1 - Thực hiện lập, cập nhật, đăng tải (hoặc niêm yết) Danh mục thông tin phải được công khai và Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin; Chỉ tiêu 2 - Thực hiện công khai văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp xã sau khi ban hành theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin; Chỉ tiêu 3 -Thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin. Hiện nay, các quy định về tiếp cận thông tin được thực hiện theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin (thay thế Luật Tiếp cận thông tin năm 2016). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Vì vậy, trong năm 2026, khi tổ chức triển khai nhiệm vụ cũng như tiến hành đánh giá tiêu chí tiếp cận pháp luật, các địa phương cần lưu ý thời gian có hiệu lực của Luật Tiếp cận thông tin (từ ngày 01/9/2026) để tổ chức triển khai nhiệm vụ được giao nhằm bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, trong đó có chỉ tiêu về cung cấp thông tin theo yêu cầu.

Đối với chỉ tiêu về thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, chỉ tiêu này được đánh giá là đạt khi 100% thông tin được cung cấp theo yêu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ, đúng hình thức theo quy định pháp luật về tiếp cận thông tin.
Về cách xác định thông tin được cung cấp theo yêu cầu
Thông tin được cung cấp theo yêu cầu là các thông tin quy định tại Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 do HĐND, UBND cấp xã tạo ra hoặc nắm giữ trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật mà công dân yêu cầu cung cấp thông qua Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, gồm: (i) Những thông tin phải được công khai theo quy định nhưng thuộc trường hợp sau đây: Thông tin trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai; thông tin hết thời hạn công khai theo quy định của pháp luật; thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng người yêu cầu không thể tiếp cận được; (ii) Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đủ điều kiện cung cấp theo quy định tại Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin; (iii) Thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu cung cấp thông tin; (iv) Ngoài thông tin nêu trên, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện và khả năng thực tế của mình, cơ quan nhà nước có thể cung cấp thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ.
Kể từ 01/9/2026 thời điểm Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 có hiệu lực,  Điều 10 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra; không cung cấp thông tin do mình nhận được (trừ trường hợp phải có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nắm giữ trong trường hợp việc cung cấp thông tin là cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng”[1]. Đồng thời, Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định thông tin được cung cấp theo yêu cầu, theo đó, về cơ bản giữ nguyên so với Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, gồm: (i) Thông tin phải được công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Thông tin trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai; thông tin hết thời hạn công khai theo quy định của pháp luật; thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng người yêu cầu không thể tiếp cận được; (ii) Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh đủ điều kiện cung cấp theo quy định tại Điều 16 của Luật; (iii) Thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu cung cấp thông tin nhưng không thuộc loại thông tin quy định tại Điều 17 của Luật và nội dung (ii) nêu trên; (iv) Ngoài thông tin quy định nêu trên, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện và khả năng thực tế của mình, cơ quan nhà nước có thể cung cấp thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ.
Về cách xác định việc thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin

Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP, việc thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin được hiểu là bảo đảm các điều kiện sau: (i) Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật; các thông tin cung cấp không chính xác nhưng đã được đính chính và cung cấp lại theo quy định tại Điều 32 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; (ii) Cung cấp thông tin theo yêu cầu kịp thời là các thông tin được cung cấp đúng thời hạn theo quy định tại Điều 27, Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; các thông tin cung cấp không chính xác nhưng đã được đính chính và cung cấp lại đúng thời hạn theo quy định tại Điều 32 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; (iii) Bảo đảm hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu quy định tại Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị phù hợp với tính chất của thông tin được yêu cầu cung cấp và khả năng của cơ quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (theo khoản 2 Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016); (iv) Bảo đảm trình tự, thủ tục thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu quy định tại Điều 29, 30, 31 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Nghị định số 13/2018/NĐ-CP; (v) Trường hợp UBND cấp xã không thể xác định được tính chính xác của thông tin do mình nắm giữ thì chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện hoặc nhận được đề nghị của người yêu cầu cung cấp thông tin, UBND cấp xã phải đề nghị cơ quan tạo ra thông tin xem xét. Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, cơ quan tạo ra thông tin phải xác định tính chính xác của thông tin và trả lời cho UBND cấp xã; nếu thông tin đã cung cấp không chính xác thì phải gửi kèm theo thông tin chính xác. Chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được trả lời, UBND cấp xã phải đính chính lại thông tin hoặc thông báo cho người yêu cầu cung cấp thông tin biết (khoản 3 Điều 32 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016).
Do vậy, kể từ ngày 01/9/2026, UBND cấp xã cần rà soát các quy định tại Mục 3 Chương III (từ Điều 23 đến Điều 28) Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 để xác định việc thực hiện cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin. Điều 24 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định cụ thể về hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin. Theo đó, người yêu cầu có thể trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền cho người đại diện yêu cầu cung cấp thông tin bằng một trong các hình thức sau đây: (i) Tại cơ quan, đơn vị; (ii) Qua dịch vụ bưu chính; (iii) Qua mạng Internet, bao gồm qua thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công bố. Người yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở cơ quan, đơn vị được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác. Cơ quan, đơn vị được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị phù hợp với tính chất của thông tin được yêu cầu cung cấp, điều kiện và khả năng của cơ quan, đơn vị, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khuyến khích việc cung cấp thông tin theo hình thức qua mạng Internet. Như vậy, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã quy định các hình thức cung cấp thông tin theo hướng đa dạng hóa, kết hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống và ứng dụng công nghệ số nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận thông tin nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm thời gian, chi phí. Về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 không quy định cụ thể mà giao Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu và các mẫu văn bản sử dụng trong cung cấp thông tin theo yêu cầu, đồng thời, rút ngắn các quy định về thời gian, thời hạn giải quyết thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu./.
 
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] Trước đó, khoản 1 Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra và thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 6 của Luật này; đối với trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này thì cung cấp thông tin khi có đủ điều kiện theo quy định

Xem thêm »