Sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật: Sự cần thiết có mô hình Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã

01/06/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) năm 2012 đã quy định về cơ chế, tổ chức phối hợp tư vấn, định hướng triển khai công tác PBGDPL thông qua mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL. Trong đó Luật cho phép thành lập, vận hành Hội đồng ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Đây là thiết chế tư vấn, định hướng nội dung PBGDPL và nhằm tạo cơ sở pháp lý nâng trách trách nhiệm, tăng cường sự phối hợp giữa các các cơ quan, tổ chức, chủ thể có liên quan trong PBGDPL. Với tính chất đặc thù của công tác PBGDPL là không thể nhìn thấy ngay được kết quả mà cần có thời gian nhất định, đủ thẩm thấu và làm thay đổi, chuyển biến trong nhận thức, hành động, trách nhiệm của đối tượng chịu sự tác động. Công tác PBGDPL muốn hiệu quả đòi hỏi triển khai thường xuyên, liên tục, bám sát phương châm mưa dầm thấm lâu. Do phạm vi, đối tượng tác động của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phần lớn có liên quan đến mọi công dân và tác động rộng rãi trong xã hội (trừ một số văn bản chuyên ngành chuyên sâu) nên việc sử dụng thiết chế Hội đồng phối hợp liên ngành đối với công tác PBGDPL là cần thiết, phù hợp.

Tại thời điểm ban hành Luật PBGDPL năm 2012, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có số lượng chưa lớn. Nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp chưa cao, chưa đa dạng. Việc PBGDPL chủ yếu được triển khai thông qua các cách thức, hình thức truyền thống, đơn giản, chưa đa dạng và chưa phát triển các phương thức mới thông qua ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội. Do đó, Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã chưa được ghi nhận trong Luật PBGDPL năm 2012. Đây là vấn đề đang còn có quan điểm, cách tiếp cận khác nhau trong quá trình sửa đổi Luật PBGDPL năm 2012. Trong bối cảnh mới, việc triển khai công tác PBGDPL của cấp xã ngày càng quan trọng hơn, bên cạnh tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Trung ương, cấp tỉnh, cần thiết mở rộng mô hình Hội đồng đến cấp xã, xuất phát từ một số lý do như:
Thứ nhất: Phạm vi, đối tượng PBGDPL rộng và công tác PBGDPL được triển khai theo hướng toàn dân, toàn diện
Trong công đoạn xây dựng, hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào đó, thì quá trình này có thể chỉ liên quan đến một số chủ thể mà trong đó chủ yếu là cơ quan chủ trì soạn thảo; cơ quan được gửi lấy ý kiến; cơ quan tham gia thẩm định; cơ quan, chủ thể phối hợp thực hiện truyền thông; cơ quan có trách nhiệm thẩm tra, cho ý kiến, thông qua hoặc ban hành. Tuy nhiên, sau khi văn bản đó được thông qua, ban hành và chuyển sang quá trình tổ chức thi hành, thì phạm vi và đối tượng chịu sự tác động của văn bản không còn bó hẹp trong các tổ chức, chủ thể nêu trên mà phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật có tác động đến mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Do đó, công tác PBGDPL không chỉ được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội mà còn là lĩnh vực công tác có tính toàn dân, toàn diện. Chính đặc điểm, tính chất này đã đặt ra yêu cầu khác biệt, đặc thù trong tổ chức triển khai hoạt động PBGDPL. Cơ chế phối hợp liên ngành thông qua mô hình Hội phối hợp PBGDPL là một trong những giải pháp để bảo đảm cho công tác PBGDPL được triển khai kịp thời, hiệu quả, bảo đảm tính toàn dân, toàn diện, hướng mạnh về cơ sở.
Thứ hai: Chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp được giao trách nhiệm, nhiệm vụ lớn
Sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, số lượng nhiệm vụ được chuyển từ Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện cho cấp xã là rất lớn. Ví dụ trong lĩnh vực xây dựng, trong 133 nhiệm vụ phân định thẩm quyền thì có 99 nhiệm vụ chuyển từ cấp huyện xuống cấp xã; trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công thương, phân định lại thẩm quyền đã có 37 nhiệm vụ từ cấp huyện xuống cấp xã; lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính, trong số 383 nhiệm vụ phân cấp thì có 205 nhiệm vụ được chuyển từ cấp huyện cho cấp xã… Từ đó cho thấy, bên cạnh các nhiệm vụ mà cấp xã đang triển khai thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, còn được giao hàng trăm nhiệm vụ phân cấp, phân quyền.
Cấp xã là cấp hành chính tổ chức thực hiện trực tiếp và có trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn. Với quy mô về diện tích và dân số tăng lên gấp nhiều lần sau sáp nhập, số lượng văn bản quy phạm pháp luật lớn và được sửa đổi, bổ sung liên tục; trong điều kiện thực tiễn nhiều địa phương vẫn coi công tác PBGDPL là trách nhiệm của riêng ngành Tư pháp, dẫn đến không chỉ gây áp lực cho công chức tư pháp – hộ tịch mà hiệu quả của công tác này chưa thực sự hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn.
Do đó, việc thành lập mô hình Hội đồng cấp xã nhằm tạo cơ chế mới và tạo thuận lợi cho cho chính quyền địa phương cấp xã trong triển khai công tác PBGDPL,  phát huy được vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị ở cơ sở tham gia vào công tác này.
Thứ ba: Cần định hướng, điều phối thống nhất, bảo đảm sử dụng nguồn lực PBGDPL hiệu quả khi công tác PBGDPL có sự tham gia của cả hệ thống chính trị
Công tác PBGDPL hiện được giao cho nhiều cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương triển khai thực hiện. Trong đó tại cấp xã, Ủy ban nhân dân được giao nhiệm vụ “tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trên địa bàn”[1], trong đó có công tác PBGDPL. Các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được giao quyền và trách nhiệm tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước[2].
Tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiệm vụ “…lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”[3]; đảng viên có nhiệm vụ “tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”[4]. Đại biểu Quốc hội theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có nhiệm vụ “phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật”[5].
Để thực hiện các nhiệm vụ, rất cần sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị. Theo đó, cách thức phối hợp hiệu quả, phù hợp nhất chính là thực hiện cơ chế Hội đồng phối hợp PBGDPL, nhằm định hướng, điều phối hoạt động, bảo đảm hiệu quả, tránh trùng lắp, lãng phí nguồn lực.
Từ một số khía cạnh phân tích nêu trên, sửa đổi Luật PBGDPL năm 2012 cần luật hóa mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã, không chỉ bảo đảm tính thống nhất trong vận hành, duy trì cơ chế phối hợp này từ trung ương đến cơ sở, mà còn góp phần đưa công tác PBGDPL hướng mạnh về cơ sở, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm./.
 

[1] Khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức chính quyền năm 2025
[2] Khoản 2 Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025)
[3] Khoản 4 Điều 23 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
[4] Khoản 3 Điều 2 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
[5] Khoản 1 Điều 27 Luật Tổ chức Quốc hội, khoản 3 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Xem thêm »