Sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng theo hướng đẩy mạnh phân cấp cho địa phương, bổ sung quy định về công chứng điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng quốc gia

10/05/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Ngày 23/4/2026 tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng với 489/491 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm tỷ lệ 97,8%).

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, hướng tới việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm việc triển khai nhiệm vụ được thông suốt, hiệu quả, kịp thời, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp; tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về hoạt động bổ trợ tư pháp, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; cơ bản kế thừa chính sách, mục tiêu và định hướng xây dựng đã được thể hiện tại Luật Công chứng năm 2024; tập trung sửa đổi, bổ sung, thay thế những vấn đề thực sự cần thiết, trong đó có một số nội dung nổi bật như sau:
Quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng
Luật sửa đổi theo hướng không liệt kê giao dịch phải công chứng mà chỉ quy định rõ hơn tiêu chí xác định giao dịch phải công chứng (bổ sung tiêu chí “đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ”, bỏ cụm từ “hoặc luật giao Chính phủ quy định”). Quy định này đã giúp giảm trực tiếp 06 loại giao dịch phải công chứng đang được quy định trong các Nghị định của Chính phủ[1], tăng số lượng giao dịch được công chứng tự nguyện theo yêu cầu, tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân, đồng thời các luật khác khi quy định về giao dịch phải công chứng đều phải đánh giá đầy đủ, bảo đảm giao dịch phải công chứng đáp ứng đủ các tiêu chí được Luật Công chứng quy định. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng
Luật đã phân quyền triệt để cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền công nhận tương đương đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên; ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng, các văn bản hướng dẫn thi hành và tình hình thực tiễn tại địa phương; xem xét, quyết định chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cho tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện công tác giao dịch tại những địa bàn cấp xã đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ; quyết định danh mục đơn vị hành chính cấp xã được thành lập Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân tại địa phương mình.

Việc thay đổi địa chỉ trụ sở của Văn phòng công chứng phải phù hợp với Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng của địa phương.
 Không giao Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng trong Luật Công chứng. Nội dung này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng của Chính phủ, trường hợp Chính phủ xác định cần ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng thì có thể quy định trong Nghị định hoặc quyết định bằng văn bản hành chính về việc giao cơ quan có thẩm quyền xây dựng chiến lược, trình Chính phủ ban hành.
Đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng
- Hồ sơ yêu cầu công chứng được sửa đổi, bổ sung theo hướng đa dạng hóa hình thức các giấy tờ cần nộp trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng để bảo đảm thuận lợi, linh hoạt cho người có yêu cầu. Theo đó, người yêu cầu công chứng nộp 01 bộ hồ sơ yêu cầu công chứng trực tuyến, trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính đến tổ chức hành nghề công chứng, bao gồm các giấy tờ sau: dự thảo giao dịch; giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng (thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác để xác định nhận thân của người yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật); Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý tài sản hoặc giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp giao dịch liên quan đến tài sản đó; giấy tờ khác có liên quan đến giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Ngoài dự thảo giao dịch, các giấy tờ còn lại là bản sao giấy hoặc bản sao điện tử hoặc bản chính điện tử.
- Về sử dụng dữ liệu thay thế khi giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng: Trường hợp đã có dữ liệu về các thông tin trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố thì người yêu cầu công chứng không phải cung cấp các giấy tờ có chứa các thông tin đó mà có thể tự khai thác dữ liệu để cung cấp cho công chứng viên; trường hợp người yêu cầu công chứng đề nghị công chứng viên khai thác dữ liệu thì phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật; công chứng viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng khai thác, sử dụng thông tin có trong cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu đã được công bố để xem xét, giải quyết hồ sơ yêu cầu công chứng; không yêu cầu xuất trình bản chính các giấy để đối chiếu.
Công chứng viên chỉ được yêu cầu người yêu cầu công chứng bổ sung giấy tờ trong thành phần hồ sơ yêu cầu công chứng trong trường hợp không khai thác được thông tin trong thời hạn giải quyết yêu cầu công chứng hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
Một cơ sở dữ liệu công chứng tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương
Luật đã sửa đổi quy định về cơ sở dữ liệu công chứng theo hướng thay 02 cơ sở dữ liệu công chứng (cơ sở dữ liệu công chứng của Bộ Tư pháp và cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương) bằng 01 cơ sở dữ liệu công chứng do Bộ Tư pháp xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; giảm bớt một số trường thông tin không cần thiết trong cơ sở dữ liệu công chứng; làm rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong xây dựng, vận hành, quản lý cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương được tích hợp, đồng bộ vào cơ sở dữ liệu công chứng mới và việc cung cấp dữ liệu công chứng phát sinh tại địa phương cho cơ sở dữ liệu công chứng mới.
Luật quy định rõ các nguyên tắc của việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, chia sẻ dữ liệu công chứng bảo đảm phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về giao dịch điện tử và tính đặc thù của hoạt động công chứng.
Luật sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
Trần Thị Phượng
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
 

[1] (i) Văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh ra nước ngoài cho các thành viên khác đứng tên mua nhà ở trong Hồ sơ đề nghị bán nhà ở cũ thuộc tài sản công; (ii) Hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; (iii) Văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đấy đồng ý đưa quyền sửa dụng đất vào doanh nghiệp; (iv) Văn bản ủy quyền giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh; (v) Văn bản uỷ quyền thực hiện quyền khiếu nại; (vi) Hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại.

Xem thêm »