Quy định mới về xử lý kỷ luật viên chức

06/07/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Ngày 26/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 234/2026/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

Nghị định gồm 4 chương, 23 điều, quy định về nguyên tắc, hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với viên chức và người đã thôi việc, nghỉ hưu. So với quy định trước đây, Nghị định có nhiều điểm mới đáng chú ý.
Một trong những điểm mới nổi bật là Nghị định được xây dựng thống nhất với Luật Viên chức năm 2025 và chỉ điều chỉnh đối với đối tượng là viên chức, thay vì quy định chung đối với cán bộ, công chức và viên chức như trước.
Về nguyên tắc xử lý kỷ luật, Nghị định bổ sung nhiều quy định nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch trong quá trình xử lý. Theo đó, quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực trong thời hạn 12 tháng; hết thời hạn này, nếu viên chức không tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định đương nhiên chấm dứt hiệu lực. Nghị định cũng quy định việc cập nhật quyết định kỷ luật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
So với quy định cũ, Nghị định quy định cụ thể hơn mối quan hệ giữa kỷ luật Đảng và kỷ luật hành chính, bảo đảm hình thức xử lý kỷ luật hành chính tương xứng với hình thức kỷ luật của Đảng; đồng thời quy định việc điều chỉnh hoặc hủy bỏ quyết định kỷ luật hành chính khi có thay đổi đối với quyết định kỷ luật của Đảng.
Nghị định cũng bổ sung quy định về tái phạm. Theo đó, viên chức đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực tiếp tục vi phạm cùng hành vi thì được xác định là tái phạm để làm căn cứ xem xét áp dụng hình thức kỷ luật nghiêm khắc hơn.
Một điểm mới khác là Nghị định quy định đầy đủ hơn các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật (Viên chức đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức; bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; viên chức là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc viên chức là nam giới đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luậ.....), các trường hợp được loại trừ trách nhiệm kỷ luật và miễn trách nhiệm kỷ luật. Trong đó, bổ sung trường hợp viên chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, đã thực hiện đúng chủ trương, không vụ lợi, không tham nhũng, tiêu cực nhưng phát sinh thiệt hại do nguyên nhân khách quan thì được xem xét miễn trách nhiệm kỷ luật theo quy định.
Về thời hiệu và thời hạn xử lý kỷ luật, Nghị định quy định cụ thể cách xác định thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, các trường hợp tính lại thời hiệu, các hành vi không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật cũng như các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, thời hạn xử lý, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Đối với các hình thức kỷ luật, Nghị định tiếp tục quy định bốn hình thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc. Tuy nhiên, các hành vi tương ứng với từng hình thức được quy định cụ thể hơn, bổ sung nhiều hành vi vi phạm như né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước; vi phạm quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp; trách nhiệm của viên chức quản lý khi để cấp dưới vi phạm.
Về trình tự xử lý kỷ luật, Nghị định tiếp tục quy định các bước gồm họp kiểm điểm, thành lập Hội đồng kỷ luật và ban hành quyết định kỷ luật, đồng thời đơn giản hóa thủ tục đối với một số trường hợp như đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, đã có quyết định kỷ luật của Đảng hoặc bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Việc rút gọn trình tự trong những trường hợp này góp phần nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian xử lý kỷ luật.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định chi tiết hơn về thành phần, nguyên tắc hoạt động của Hội đồng kỷ luật; bổ sung quy định không bố trí người có quan hệ thân thích hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia Hội đồng kỷ luật hoặc chủ trì cuộc họp kiểm điểm nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng trong quá trình xử lý.
Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung các quy định về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức sau khi bị xử lý kỷ luật, như việc phục hồi quyền lợi trong trường hợp bị kết luận xử lý oan, sai; bố trí công tác phù hợp khi quyết định kỷ luật bị hủy hoặc thay đổi; quy định về việc đăng ký dự tuyển trở lại đối với viên chức bị buộc thôi việc sau khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Với nhiều quy định mới theo hướng cụ thể, minh bạch và phù hợp với thực tiễn, Nghị định số 234/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đội ngũ viên chức, đồng thời bảo đảm việc xử lý kỷ luật được thực hiện khách quan, đúng pháp luật, thống nhất và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức./.
Đinh Quỳnh Mây
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

Xem thêm »