Ngày 10/6/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13 (sau đây gọi là Pháp lệnh) nhằm tiếp tục thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó, đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là yêu cầu về hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới, xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp. Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2026 với một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

Văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật.
Khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh quy định cụ thể về việc sử dụng, viện dẫn văn bản hợp nhất. Theo đó đối với văn bản hợp nhất của luật, pháp lệnh thì ghi tên, số, ký hiệu của luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất; đối với văn bản hợp nhất của văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành thì ghi tên loại, số, ký hiệu, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất; đối với văn bản hợp nhất của văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở địa phương ban hành thì ghi tên loại, số, ký hiệu, cơ quan, người ban hành văn bản, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.
Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung tên gọi thì viện dẫn theo tên gọi đã được sửa đổi, bổ sung. Việc viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm phải nêu rõ số thứ tự của phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản hoặc thứ tự điểm trong văn bản hợp nhất.
Về thời hạn hợp nhất văn bản do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành và văn bản do Ủy ban Thường vụ Quốc hội liên tịch ban hành
Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày thông qua thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được công bố nhưng chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung. Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 15 ngày kể từ ngày thông qua thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Về thời hạn hợp nhất văn bản do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và văn bản do Chính phủ liên tịch ban hành
Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét thông qua hoặc ký ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung không đồng thời là cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản được sửa đổi, bổ sung thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được ký ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung có trách nhiệm gửi văn bản sửa đổi, bổ sung và dự thảo phần nội dung hợp nhất đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định để hoàn thành việc hợp nhất và ký xác thực văn bản hợp nhất.
Đối với trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành thì văn bản sửa đổi, bổ sung và dự thảo phần nội dung hợp nhất phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền ngay trong ngày ký ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thời hạn hợp nhất theo quy định.
Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được ký ban hành. Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký ban hành thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Về thời hạn hợp nhất văn bản do các cơ quan, người có thẩm quyền khác ban hành hoặc liên tịch ban hành
Đơn vị được giao chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo phần nội dung hợp nhất để trình đồng thời với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình thông qua hoặc ký ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành thì người có thẩm quyền hoàn thành việc hợp nhất văn bản và ký xác thực văn bản hợp nhất trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được ký ban hành. Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký ban hành thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 07 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, người có thẩm quyền hoàn thành việc hợp nhất văn bản và ký xác thực văn bản hợp nhất trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày văn bản sửa đổi, bổ sung được thông qua hoặc ký ban hành. Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 07 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành thì văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trần Thị Phượng
Phòng Quản lý phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách,
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý