Để biết được vụ việc trợ giúp pháp lý (TGPL) sau khi kết thúc có đạt chất lượng hay không đạt chất lượng thì cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành đánh giá chất lượng vụ việc TGPL. Vì vậy, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm xác định mức độ chất lượng quá trình thực hiện vụ việc TGPL dựa trên những tiêu chí cụ thể tương ứng với cơ cấu điểm cụ thể để xếp loại chất lượng vụ việc TGPL do người thực hiện TGPL thực hiện. Căn cứ theo Điều 16 của Thông tư số 12/2018/TT-BTP được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2021/TT-BTP, thì việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý dựa vào 03 nhóm tiêu chí lớn, đó là: (1) Tiêu chí về trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý (chiếm 30 điểm); (2) Tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý (chiếm 60 điểm); (3) tiêu chí về sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý trên cơ sở ý kiến phản hồi của người được trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích (chiếm 10 điểm). Trong đó, nhóm tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý chiếm cơ cấu số điểm cao nhất (60) trong tổng số 100 điểm của cả 03 nhóm tiêu chí. Tiêu chí về thực hiện trợ giúp pháp lý với 05 tiêu chí thành phần, bao gồm: (i) Thực hiện TGPL phù hợp với yêu cầu TGPL và phạm vi được phân công; (ii) Thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc; (iii) Nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan để bảo đảm nội dung TGPL đúng và phù hợp với pháp luật; (iv) Tham gia các hoạt động tố tụng hoặc tham gia các hoạt động đại diện ngoài tố tụng để kịp thời có giải pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL; (v) Quá trình thực hiện TGPL được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc TGPL. Cụ thể:

* Tiêu chí “thực hiện TGPL phù hợp với yêu cầu TGPL và phạm vi được phân công”
Theo yêu cầu của tiêu chí này thì người thực hiện TGPL chỉ được thực hiện TGPL trong phạm vi được tổ chức thực hiện TGPL phân công và phù hợp với yêu cầu của người được TGPL. Theo đó, yêu cầu TGPL của người được TGPL được thể hiện trong đơn là ý chí, nguyện vọng, mong muốn được trợ giúp của họ. Cần lưu ý chỉ thụ lý các yêu cầu hợp pháp của người được TGPL. Do vậy, những yêu cầu không hợp pháp của người thuộc diện được TGPL hoặc yêu cầu hợp pháp của người không thuộc diện được TGPL cũng không được xem xét, thụ lý giải quyết. Trên cơ sở yêu cầu hợp pháp của người được TGPL, tổ chức thực hiện TGPL xem xét, thụ lý và phân công người thực hiện TGPL; xác định rõ phạm vi TGPL, lĩnh vực TGPL và hình thức TGPL mà người được TGPL yêu cầu TGPL.
Ví dụ: ông A là người được TGPL có đơn yêu cầu Trung tâm TGPL nhà nước cử người bào chữa cho ông trong vụ án cố ý gây thương tích mà tòa án đang chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Sau khi thụ lý hồ sơ, Trung tâm TGPL cử trợ giúp viên pháp lý B thực hiện TGPL theo hình thức tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cố ý gây thương tích. Sau khi tham gia bào chữa xong phiên tòa sơ thẩm, có quyết định hoặc bản án của tòa án thì trợ giúp viên pháp lý B thực hiện xong yêu cầu TGPL, vụ việc TGPL kết thúc.
* Tiêu chí “Thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc”
Thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc TGPL có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho việc nghiên cứu, đề xuất phương án giải quyết vụ việc được chính xác, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Đây cũng là bước tiền đề, là cơ sở cho việc thực hiện những công việc tiếp theo trong quá trình thực hiện vụ việc TGPL của người thực hiện TGPL. Theo quy định, người thực hiện TGPL phải thực hiện việc thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc TGPL mà mình được phân công thực hiện. Đó có thể là các thông tin, tài liệu về nhân thân của người được TGPL, về mức độ thiệt hại… để làm căn cứ đề xuất áp dụng các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).
Ví dụ: trợ giúp viên pháp lý A tham gia bào chữa cho Nguyễn Văn B là người bị buộc tội trong vụ án giết người thì cần phải căn cứ vào những quy định của Bộ luật hình sự về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, về nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chẳng hạn như giấy tờ xác nhận là người dân tộc thiểu số, người bị hạn chế khả năng nhận thức; người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; người có công với cách mạng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải…để cung cấp cho cơ quan cơ quan tiến hành tố tụng làm cơ sở cho việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội.
* Tiêu chí “Nghiên cứu và áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan để bảo đảm nội dung trợ giúp pháp lý đúng và phù hợp với pháp luật”
Tiêu chí này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện TGPL của người thực hiện TGPL; thể hiện trình độ, hiểu biết, kỹ năng và trách nhiệm của người thực hiện TGPL. Điều này đòi hỏi người thực hiện TGPL phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, hiểu rõ được bản chất của vụ việc, nắm chắc pháp luật về nội dung, pháp luật về thủ tục và pháp luật về TGPL thì mới có thể áp dụng một cách đúng đắn và đầy đủ các quy định của pháp luật có liên quan, từ đó đưa ra các phương án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với thực tiễn, tính chất vụ việc.
Để thực hiện tiêu chí này đòi hỏi người đánh giá chất lượng phải có kiến thức chuyên môn pháp luật tốt, có hiểu biết, kinh nghiệm và kỹ năng áp dụng pháp luật thì mới có thể xác định được các quy định pháp luật có thể viện dẫn để áp dụng giải quyết trong vụ việc cần đánh giá. Xác định nội dung TGPL có đúng với quy định của pháp luật hay không, có bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL không.
Ví dụ: trong vụ án dân sự, nguyên đơn có 3 yêu cầu hợp pháp ghi trong đơn khởi hiện. Vì vậy, trong bản luận cứ bảo vệ, người thực hiện TGPL phải đưa ra lập luận bảo vệ đối với cả 3 yêu cầu của nguyên đơn. Nếu chỉ đề cập 1-2 yêu cầu của nguyên đơn thì đó là chưa đầy đủ.
* Tiêu chí “Tham gia các hoạt động tố tụng hoặc tham gia các hoạt động đại diện ngoài tố tụng để kịp thời có giải pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý”
Tiêu chí này đòi hỏi người thực hiện TGPL khi được cử tham gia thực hiện vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng thì phải tham gia đầy đủ, có chất lượng các hoạt động theo đúng yêu cầu của cơ quan tố tụng và quy định của pháp luật tố tụng; nếu được cử tham gia thực hiện vụ việc TGPL theo hình thức đại diện ngoài tố tụng thì phải thực hiện các hoạt động đại diện ngoài tố tụng với các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Vì thế, người đánh giá chất lượng vụ việc TGPL phải nghiên cứu kỹ quyết định cử người của Trung tâm TGPL và đối chiếu với các quy định của pháp luật thủ tục để xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của người thực hiện TGPL cần phải tham gia vào những hoạt động nào thuộc giai đoạn nào của quá trình tố tụng hoặc phải làm việc với những cơ quan nào trong quá trình đại diện ngoài tố tụng để có thể kịp thời có giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích của người được TGPL.
Tiêu chí: “Quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý”
Theo tiêu chí này thì người thực hiện TGPL phải lập hồ sơ vụ việc TGPL theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật TGPL; bao gồm các giấy tờ cụ thể nêu tại Điều 11 của Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018. Ngoài một số giấy tờ, tài liệu cần có trong tất cả các hồ sơ vụ việc TGPL quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật TGPL (ví dụ như đơn yêu cầu TGPL, giấy tờ chứng minh người thuộc diện TGPL,… ) thì tuỳ theo từng loại vụ việc TGPL (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng) cần có thêm các giấy tờ cụ thể theo quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 11 của Thông tư số 12/2018/TT-BTP.
Giấy tờ, tài liệu khác thể hiện quá trình thực hiện vụ việc TGPL của người thực hiện TGPL như: các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc TGPL do người thực hiện TGPL thu thập, ghi chép, thiết lập trong quá trình gặp gỡ, làm việc với người được TGPL. Ví dụ: bản ghi chép khi làm việc với người được TGPL; Biên bản hỏi cung hoặc biên bản ghi lời khai của bị can, bị cáo, hại hoặc người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường; bản xác minh về tài sản; biên bản bồi thường thiệt hại; đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, văn bản dự kiến các câu hỏi tại phiên toà, giấy tờ khác liên quan đến người được TGPL …. Ngoài ra, cần lưu ý cả Phiếu lấy ý kiến người được TGPL hoặc người thân thích của họ (theo mẫu).
Với tinh thần của Nghị quyết số 27 và Nghị quyết số 66 của Đảng đề ra mục tiêu là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong bối cảnh như vậy, việc nâng cao hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý thông qua hoạt động đánh giá chất lượng vụ việc TGPL sau khi vụ việc kết thúc ngày càng có ý nghĩa hết sức quan trọng, điều này góp phần nâng bảo đảm cho pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, hiệu lực, hiệu quả.
Bùi Như Lan, Phòng Quản lý trợ giúp pháp lý
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý