(Nguồn: https://tapchitoaan.vn/huong-dan-nguoi-thuc-hien-tro-giup-phap-ly-truc-tai-toa-an6144.html)
Diện người được trợ giúp pháp lý là một chế định quan trọng trong thể chế về trợ giúp pháp lý. Đây luôn là nôi dung được Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chú trọng nghiên cứu, cân nhắc trong quá trình hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 14 nhóm người thuộc diện trợ giúp pháp lý. Sau 8 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trong toàn quốc đã nỗ lực thực hiện trợ giúp pháp lý để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu trợ giúp pháp lý của người thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Theo báo cáo của các địa phương, tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/05/2025, toàn quốc có 248.598 vụ việc TGPL kết thúc, trong đó có 151.164 vụ việc tham gia tố tụng (chiếm 60.8% tổng số vụ việc); 95.283 vụ việc tư vấn pháp luật; 2.151 vụ việc đại diện ngoài tố tụng
[1]. Tuy nhiên, bức tranh kinh tế – xã hội đất nước đã thay đổi mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên, các chính sách an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, do đó, cần nghiên cứu mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý.
Chủ trương lớn từ Trung ương
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống TGPL (TGPL) để người dân dễ tiếp cận pháp luật”; “Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu: “thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống TGPL để người dân dễ tiếp cận pháp luật; ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL; bố trí nguồn ngân sách phù hợp, tương xứng cho công tác tổ chức thi hành pháp luật; ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác TGPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”.
- Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh: kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, cần cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
Tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp ngày 07/11/2024, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo “Phát huy vai trò của TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội”.
Khoảng trống chính sách cần được lấp đầy
Qua rà soát 8 năm thực hiện Luật TGPL cho thấy, một số quy định về người được trợ giúp pháp lý bộc lộ bất cập. Cụ thể, một số nhóm người thuộc chính sách người có công (gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ), người nhiễm chất độc da cam, người khuyết tật... thuộc nhóm “đối tượng đặc thù”, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng hiện nay cần có điều kiện có khó khăn về tài chính mới thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Bị hại trong vụ án hình sự đang chỉ giới hạn ở nhóm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có khó khăn về tài chính. Một số diện người đã được sửa đổi ở các luật gần đây như Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phòng chống mua bán người. Bên cạnh đó, một số nhóm người “dễ bị tổn thương” nhưng chưa được quy định thuộc diện được trợ giúp pháp lý; ví dụ người dân tộc thiểu số rất ít người; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, sự kiện bất khả kháng, tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, thời gian gần đây, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế, trong đó có các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, quy định việc TGPL cho công dân của bên ký kết điều ước quốc tế với Việt Nam nhưng Luật TGPL năm 2017 chưa có quy định về nhóm đối tượng này.
Từ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số diện người được trợ giúp pháp lý tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Trong quá trình thảo luận về vấn đề này, có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất đề nghị mở rộng diện người được TGPL cho toàn bộ người cận nghèo, người đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (không chỉ giới hạn ở người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo và các đối tượng theo khoản 7 Điều 7 Luật TPGL năm 2017); người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, sự kiện bất khả kháng, tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; người dân tộc thiểu số rất ít người; đồng thời, sửa đổi một số nhóm người không yêu cầu điều kiện có khó khăn về tài chính bao gồm: người khuyết tật; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam.
Việc sửa đổi bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người bị nhiễm chất độc da cam; Người khuyết tật vì các lý do sau: Đây là nhóm đối tượng đặc thù về tư cách nhân thân (nhóm thân nhân của người có công với cách mạng) hoặc bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần (nhóm người bị nhiễm chất độc da cam và người khuyết tật). Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng những người này không nhiều; số lượng thân nhân người có công và người nhiễm chất độc da cam cũng đang giảm dần theo thời gian. Việc quy định những nhóm này được TGPL mà không yêu cầu điều kiện “có khó khăn về tài chính” phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành , điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các chính sách tri ân người có công, thân nhân người có công của Đảng, Nhà nước cũng như chủ trương “mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước” tại Nghị quyết số 27-NQ/TW. Việc quy định TGPL cho người khuyết tật, không giới hạn ở điều kiện có khó khăn về tài chính phù hợp kết luận của Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Đảng uỷ Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật . Mở rộng TGPL cho tất cả người thuộc hộ cận nghèo, người hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà không giới hạn ở diện người bị buộc tội, người nhiễm HIV, người cao tuổi, nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình.
Quan điểm thứ hai đề nghị chỉ sửa đổi một số nhóm người không yêu cầu điều kiện có khó khăn về tài chính bao gồm: người khuyết tật; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; bổ sung người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc thiểu số rất ít người, người dân tộc thiểu số có khó khăn về tài chính.
Tác giả cho rằng quan điểm thứ nhất sẽ đáp ứng các yêu cầu thể chế hóa chính sách gần đây của Đảng về đẩy mạnh an sinh xã hội cho người yếu thế, góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực pháp luật, người dân, nhất là nhóm “yếu thế” cần được bảo đảm công lý, được tiếp cận công bằng với pháp luật, được trợ giúp pháp lý để thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước. Việc nâng cao nhận thức pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các tranh chấp giúp người dân yên tâm phát triển kinh tế. Việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay của đất nước khi thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 ước tính là 5.000 USD/năm, tăng 209% so với năm 2017 (thời điểm ban hành Luật TGPL năm 2017). Cách quy định này cũng tương đồng với quy định của nhiều nước trên thế giới, theo đó Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý miễn phí cho những người không có khả năng tài chính để chi trả cho dịch vụ pháp lý có thu phí. Việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý theo phương án này nhằm bảo đảm tối đa quyền được tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng đặc thù, phù hợp với thông lệ quốc tế, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Để chính sách đi vào cuộc sống
Theo ước tính, khi sửa đổi, bổ sung diện người được trợ giúp pháp lý sẽ phát sinh khoảng 11.000 vụ việc/năm. Hiện có hơn 1.900 người thực hiện TGPL, như vậy trung bình mỗi người thực hiện TGPL đảm nhận thêm khoảng gần 6 vụ/năm/người, không yêu cầu bổ sung người thực hiện TGPL hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Hiện nay kinh phí chi trả vụ việc TGPL là 2,8 triêụ/vụ. Do đó, ước tính kinh phí chi trả thực hiện số vụ việc này là khoảng 33 tỷ đồng/năm (trung bình gần 1 tỷ đồng/tỉnh/năm). Đây là chi phí trực tiếp cho thực hiện TGPL (chi trả thù lao cho luật sư, người thực hiện TGPL lý khác, chi phí đi lại, công tác phí…), không phát sinh chi phí hành chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chi phí gián tiếp khác.
Trong 8 năm qua, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng khoảng 2,5 lần, trong khi kinh phí ngân sách nhà nước chi cho công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) chỉ tăng khoảng 1,7 lần, tương ứng khoảng 105 tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ gia tăng chi ngân sách cho TGPL còn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung. Trong bối cảnh quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao (tăng 8,23% trong quý III/2025), Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khối ASEAN Với tiềm lực tài chính ngày càng được củng cố, Nhà nước hoàn toàn có khả năng cân đối, bố trí và tăng cường nguồn lực để đáp ứng yêu cầu mở rộng diện người được trợ giúp và các lĩnh vực trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, qua đó bảo đảm thực hiện hiệu quả chính sách “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể hiện rõ tính nhân văn và trách nhiệm của Nhà nước trong thực hiện chính sách an sinh xã hội. Khi nhiều nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương như người khuyết tật, thân nhân người có công, người nhiễm chất độc da cam, người cận nghèo, người gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh… được tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí, khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được nâng cao, góp phần củng cố niềm tin vào công lý, giảm bất bình đẳng trong tiếp cận pháp luật và thúc đẩy ổn định xã hội.
Để đáp ứng tốt yêu cầu khi đối tượng trợ giúp pháp lý gia tăng, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cần chủ động chuẩn bị về tổ chức bộ máy, nhân lực, kinh phí và quy trình nghiệp vụ. Cần rà soát, bổ sung đội ngũ trợ giúp viên, cộng tác viên, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu cho các nhóm đối tượng đặc thù; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, phân loại vụ việc; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông về trợ giúp pháp lý; đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực xã hội để bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động trong bối cảnh nhiệm vụ ngày càng nặng nề.