Ngày 25/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 338/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để triển khai các chính sách hỗ trợ việc làm trong bối cảnh thị trường lao động đang đứng trước nhiều yêu cầu mới về phục hồi, phát triển bền vững và thích ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đối tượng áp dụng của Nghị định được xác định rõ ràng và bao quát, bao gồm người lao động theo quy định của Luật Việc làm; các cơ sở sản xuất, kinh doanh vay vốn để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; cùng các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan. Việc xác định đầy đủ đối tượng thụ hưởng thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc đặt người lao động ở vị trí trung tâm của chính sách, đồng thời khuyến khích khu vực sản xuất, kinh doanh chủ động tham gia tạo việc làm cho xã hội.
Mở rộng hạn mức vay và tăng quyền chủ động cho địa phương
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 338/2025/NĐ-CP là quy định cụ thể và linh hoạt về mức vay vốn hỗ trợ tạo việc làm. Theo đó, đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa lên tới 10 tỷ đồng và không vượt quá 200 triệu đồng cho mỗi người lao động được hỗ trợ tạo việc làm, duy trì hoặc mở rộng việc làm. Đối với người lao động, mức vay tối đa là 200 triệu đồng. Quy định này phản ánh sự điều chỉnh phù hợp với quy mô vốn và nhu cầu thực tế của các mô hình sản xuất, kinh doanh hiện nay, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác và kinh tế hộ.
Đáng lưu ý, Nghị định cho phép địa phương được chủ động hơn trong việc quyết định hạn mức vay. Trong trường hợp điều kiện kinh tế – xã hội bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức vay tối đa cao hơn đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Quy định này không chỉ bảo đảm tính thống nhất của chính sách trung ương, mà còn phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc giải quyết việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại chỗ.
Linh hoạt về thời hạn vay, lãi suất và điều kiện bảo đảm tiền vay
Về thời hạn vay vốn, Nghị định quy định thời hạn tối đa lên tới 120 tháng. Đây là điểm mới có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, tạo điều kiện cho người vay có đủ thời gian triển khai phương án sản xuất, kinh doanh, ổn định hoạt động và tạo việc làm bền vững trước khi hoàn trả vốn. Thời hạn vay cụ thể được xác định trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của từng đối tượng, bảo đảm sự linh hoạt và phù hợp với từng mô hình vay vốn.
Chính sách lãi suất vay vốn tiếp tục thể hiện rõ tính ưu đãi và định hướng an sinh xã hội. Đối với các đối tượng vay vốn theo khoản 1 Điều 9 Luật Việc làm, lãi suất vay bằng 127% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định. Trong khi đó, đối với các nhóm đối tượng yếu thế như người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người lao động thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, lãi suất vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo. Lãi suất nợ quá hạn được xác định bằng 130% lãi suất vay vốn, vừa bảo đảm kỷ luật tài chính, vừa giữ được tính nhân văn của chính sách tín dụng ưu đãi.
Về điều kiện bảo đảm tiền vay, Nghị định quy định đối với khoản vay trên 200 triệu đồng, cơ sở sản xuất, kinh doanh phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương cho phép, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức vay phải thực hiện bảo đảm tiền vay cao hơn mức chung, qua đó tạo thêm dư địa chính sách cho địa phương trong việc hỗ trợ phát triển sản xuất và tạo việc làm.
Đơn giản hóa thủ tục, nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn vay
Một nội dung quan trọng khác của Nghị định là quy định chi tiết, rõ ràng về hồ sơ vay vốn, theo hướng minh bạch, thuận lợi nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hồ sơ vay vốn bao gồm phương án sử dụng vốn vay; các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được hưởng lãi suất ưu đãi (nếu có); và hồ sơ liên quan đến tài sản bảo đảm đối với khoản vay vượt 200 triệu đồng. Đối với người lao động, hồ sơ vay vốn chủ yếu tập trung vào phương án sử dụng vốn và giấy tờ chứng minh thuộc nhóm đối tượng ưu tiên, trong đó khuyến khích khai thác thông tin từ tài khoản định danh điện tử mức độ 02 nhằm giảm bớt thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ.
Về trình tự, thủ tục giải quyết vay vốn, Nghị định quy định rõ trách nhiệm của Ngân hàng Chính sách xã hội. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, ngân hàng phải thông báo kết quả phê duyệt cho vay. Quy định này góp phần nâng cao kỷ luật hành chính, bảo đảm người lao động và doanh nghiệp sớm tiếp cận được nguồn vốn để triển khai các phương án tạo việc làm, duy trì và mở rộng sản xuất.
Có thể khẳng định, Nghị định số 338/2025/NĐ-CP là bước cụ thể hóa quan trọng của Luật Việc làm, thể hiện rõ tư duy đổi mới trong chính sách hỗ trợ tạo việc làm, chuyển từ hỗ trợ mang tính ngắn hạn sang hỗ trợ bền vững, gắn tín dụng ưu đãi với hiệu quả tạo việc làm thực chất. Với các quy định mới về hạn mức vay, thời hạn vay, lãi suất ưu đãi và thủ tục linh hoạt, Nghị định được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, qua đó góp phần ổn định và nâng cao chất lượng việc làm cho người lao động trong giai đoạn tới./.
Nguyễn Anh Vũ
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý