Hòa giải ở cơ sở là một phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ sở mang đậm nét văn hóa truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Hoạt động hòa giải nhằm xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên để hàn gắn lại mối quan hệ đã bị phá vỡ trên tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của quần chúng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra ở cơ sở để giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp trong nội bộ Nhân dân theo quy định của pháp luật. Nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác hòa giải ở cơ sở, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác này, luôn coi việc khuyến khích, tăng cường công tác hòa giải là một chủ trương nhất quán trong quản lý xã hội. Ngày 20/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai công tác hòa giải ở cơ sở, xác định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong công tác hoà giải ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của Tổ hòa giải, hòa giải viên. Với hơn 80.000 Tổ hòa giải và hơn 500.000 hòa giải viên trên cả nước, hằng năm các tổ hòa giải ở cơ sở đã tiến hành hòa giải hơn 120.000 vụ việc, tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 80%. Việc hòa giải dựa trên phương châm “thấu tình đạt lý”, các bên thông hiểu lẫn nhau, do đó khi hòa giải thành các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận. Điều này giúp xóa bỏ và triệt tiêu bất ổn xã hội, không để hình thành “điểm nóng”. Thông qua hòa giải ở cơ sở, các hòa giải viên còn vận động Nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, phát huy tinh thần đoàn kết, góp phần giữ gìn kỷ cương, trật tự an toàn xã hội.

Tuy nhiên, việc triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản thi hành trong thời gian qua cũng tồn tại một số hạn chế, một số quy định của Luật còn bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, trong đó có quy định liên quan đến giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành. Khoản 2 Điều 24 Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 quy định: “Các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành gồm các nội dung chính sau đây…”. Điều 25 của Luật quy định các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành và Điều 26 quy định hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành do mình trực tiếp giải quyết; kịp thời thông báo cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Trưởng ban công tác Mặt trận những vấn đề phát sinh trong quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện... Như vậy, có thể thấy theo quy định của Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013, văn bản hoà giải thành giữa các bên cũng không bắt buộc phải lập trong trường hợp hoà giải thành nên có thể trên thực tế nhiều trường hợp sau khi hoà giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện thoả thuận thì hoà giải viên hoặc tổ hoà giải không có cơ sở để đôn đốc các bên thực hiện thoả thuận. Để thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, bên cạnh việc hòa giải viên theo dõi sát sao, khéo léo vận động để các bên tuân thủ kết quả hòa giải thì phần lớn là phụ thuộc vào ý thức, sự tự nguyện thực hiện thỏa thuận của các bên tranh chấp. Nhiều khi một bên hoặc các bên tranh chấp không thực sự có thiện chí, chấp nhận hòa giải thành nhưng không thực hiện đúng thỏa thuận hòa giải, những trường hợp này tổ hòa giải rất khó tác động. Hoặc có khi do yếu tố khách quan không thể thực hiện thỏa thuận thì tổ hòa giải không kịp thời theo dõi, giúp các bên thỏa thuận thì mâu thuẫn có thể lại bùng phát. Trên thực tế, nhiều vụ việc đã hòa giải thành, sau một thời gian các bên thực hiện không đúng thỏa thuận lại tái phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên lại sâu sắc hơn, việc hòa giải lại khó đạt kết quả hơn, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trong cộng đồng dân cư.
Thực hiện Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về thủ tục yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp (sau khi có ý kiến thống nhất của Tòa án nhân dân tối cao) tại Công văn số 1503/BTP-PBGDPL ngày 05/5/2017 và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tư pháp, việc yêu cầu Tòa án nhân dân công nhận kết quả hòa giải thành cũng đã được thực hiện tại một số địa phương. Tuy nhiên, không có nhiều vụ việc được các bên yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Tính đến năm 2023, có 170 đơn đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành và có 168 vụ, việc hòa giải thành ở cơ sở được Tòa án ra quyết định công nhận. Có thể thấy, số lượng vụ, việc hòa giải thành ở cơ sở đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận còn thấp. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 chưa quy định về yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở (do quy định này được ban hành tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Vì thế, nhiều người dân (thậm chí cả hòa giải viên) chưa biết đến quy định này để thực hiện sau khi hòa giải thành. Điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc dù đã hòa giải xong nhưng vẫn phát sinh tranh chấp mới hoặc phải khởi kiện lại từ đầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở.

Trong bối cảnh hiện nay thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Hội nghị lần thứ 11 và Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế về công tác hoà giải ở cơ sở rất cần thiết, trong đó có quy định nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của hoà giải thành trên thực tế, từ đó góp phần nâng cao vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới. Chính vì vậy, 01 trong 05 chính sách lớn được Bộ Tư pháp xác định trong hồ sơ chính sách của dự án Luật Hoà giải ở cơ sở (sửa đổi) là: “Bảo đảm nâng cao giá trị pháp lý của kết quả hoà giải thành”. Chính sách đang được lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan bằng văn bản và đã được góp ý tại Hội nghị tham vấn chính sách (tổ chức tại TP. Hà Nội ngày 12/3/2026).
Nội dung, giải pháp thực hiện chính sách được lựa chọn bao gồm: (i) Bổ sung chính sách của Nhà nước về việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải ở cơ sở yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành; (ii) Rà soát, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoà giải, quy định về tiến hành hoà giải, thực hiện hoà giải thành nhằm thực hiện lập văn bản hoà giải thành và thực hiện thoả thuận hoà giải thành… Trên cơ sở đó, dự kiến quy phạm hoá chính sách này như sau:
(i) Bổ sung chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở trong việc khuyến khích các bên tham gia hoà giải yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận kết quả hoà giải thành.
(ii) Bổ sung quyền “Yêu cầu Toà án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hoà giải thành”; quyền “yêu cầu hòa giải viên lập văn bản hòa giải sau khi kết thúc hòa giải” của các bên tham gia hoà giải. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hoà giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
(iii) Quy định việc lập văn bản hoà giải thành là trách nhiệm của các bên trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận nhằm bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch và khả năng thực thi của kết quả hòa giải.
Bên cạnh đó, dự kiến bổ sung nghĩa vụ của hoà giải viên trong việc theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành của Toà án nhân dân có thẩm quyền đối với vụ, việc hoà giải do mình trực tiếp giải quyết (nếu có).
Các quy định nêu trên nhằm mục đích trực tiếp nâng cao giá trị pháp lý và tính thực thi của kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Việc quy định bắt buộc lập văn bản hòa giải thành và bổ sung quyền yêu cầu Tòa án công nhận sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, giúp các thỏa thuận giữa các bên không chỉ dừng lại ở sự tự nguyện mà còn có tính ràng buộc và khả năng bảo đảm thực hiện trên thực tế. Các quy định này cũng góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của hòa giải viên, củng cố niềm tin của người dân vào hiệu quả của phương thức hòa giải. Qua đó, phát huy tốt hơn vai trò của hòa giải ở cơ sở trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp, giữ gìn ổn định xã hội và giảm tải cho hệ thống Tòa án./.
Lê Nguyên Thảo
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý