Những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản

08/01/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền hai cấp, phân quyền, phân cấp, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý phát sinh từ thực tiễn quản lý, góp phần tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15.

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường giới thiệu nội dung của Luật

Ngoài việc luật hóa các quy định về phân quyền, phân cấp về lĩnh vực địa chất và khoáng sản theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Địa chất và khoáng sản có một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản sau:
- Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trong cấp phép hoạt động khoáng sản nhóm III, nhóm IV, cụ thể như sau:
(i) Cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV để cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án đầu tư quan trọng, cấp bách, khẩn cấp. Thủ tục cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV thực hiện theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 73 của Luật Địa chất và khoáng sản.
(ii) Cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III để cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án đầu tư quan trọng, cấp bách, khẩn cấp và cho phép cấp trực tiếp cho nhà thầu thi công hoặc chủ đầu tư để thực hiện dự án. Trường hợp nhà thầu thi công, chủ đầu tư không đề nghị cấp phép thì được cấp cho tổ chức, cá nhân khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 53 của Luật Địa chất và khoáng sản và khai thác chỉ để cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án nêu trên; thủ tục cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản được thực hiện theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản.
(iii) Quyết định việc khai thác, sử dụng khoáng sản nhóm III, khoáng sản nhóm IV để ứng phó với tình trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh, an ninh, quốc phòng không phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, công nhận kết quả thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản.
- Thứ hai, sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến tiêu chí khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để bảo đảm nguyên liệu, vật liệu cho các công trình, dự án đầu tư quan trọng, cấp bách, khẩn cấp; khu vực khoáng sản đá vôi, sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng và khoáng sản là phụ gia điều chỉnh làm xi măng đã xác định trong quy hoạch khoáng sản nhóm II; khu vực khoáng sản xác định trong quy hoạch khoáng sản hoặc quy hoạch tỉnh là nguồn nguyên liệu cho nhà máy chế biến khoáng sản đang hoạt động theo quy định của pháp luật; bảo đảm cơ sở pháp lý để cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với khu vực đã có kết quả thăm dò hoặc để gia hạn, cấp lại, điều chỉnh giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản, chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản, quyền khai thác khoáng sản và một số trường hợp đặc thù khác.
- Thứ ba, cho phép cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép thăm dò xuống sâu, mở rộng đối với tổ chức, cá nhân đang khai thác khoáng sản hợp pháp mà không phải điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản trước khi cấp giấy phép thăm dò; căn cứ theo kết quả thăm dò khoáng sản, cơ quan quản lý quy hoạch khoáng sản cập nhật, bổ sung vào quy hoạch khoáng sản làm cơ sở quản lý hoạt động khoáng sản.
- Thứ tư, bổ sung 01 Chương (Chương VIIa) gồm 4 Điều (từ Điều 85a đến Điều 85d) về quản lý đất hiếm. Trong đó, bổ sung các chế tài, cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động có liên quan đối với loại hình khoáng sản này.
- Thứ năm, bổ sung quy định về quyền ưu tiên nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với tài nguyên, trữ lượng khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Theo đó, tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản nhóm IV, khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản nhóm IV thực hiện quyền ưu tiên nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm IV như sau: (i) 18 tháng kể từ ngày được công nhận kết quả thăm dò khoáng sản (đối với khu vực đã được thăm dò) hoặc xác nhận kết quả khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản dự kiến khai thác (đối với khu vực chưa được thăm dò), trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này; (ii) 45 ngày kể từ ngày hết thời hạn khảo sát, đánh giá thông tin chung về khoáng sản dự kiến khai thác đối với trường hợp khai thác khoáng sản nhóm IV để cung cấp cho các công trình, dự án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1a Điều 55 của Luật này.
Ngoài ra, nhằm kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, điểm nghẽn, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng khoáng sản góp phần thực hiện nhanh chóng tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 – 2030, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản đã quy định sửa đổi các quy định về thăm dò, khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản, thu hồi khoáng sản, tài chính trong hoạt động khoáng sản…
Với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp phép hoạt động khoáng sản, góp phần khơi thông nguồn lực khoáng sản phục vụ cho công tác thi công, xây dựng công trình, dự án đầu tư quan trọng, cấp bách, khẩn cấp, Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng các tổ chức, cá nhân cấp phép khai thác khoáng sản phục vụ thi công các dự án nêu trên không phải căn cứ vào phương án quản lý về địa chất, khoáng sản trong việc thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng để cung cấp cho các công trình, dự án nêu trên. Trường hợp nhà thầu thi công, chủ đầu tư không đề nghị cấp phép thì được cấp cho tổ chức, cá nhân khác có đủ điều kiện về khoáng sản khai thác chỉ để cung cấp vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án.
Bên cạnh đó là việc cắt giảm thủ tục hành chính trong cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, công nhận kết quả thăm dò khoáng sản, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản trong việc khai thác, sử dụng khoáng sản nhóm III, khoáng sản nhóm IV để ứng phó với tình trạng khẩn cấp về thiên tai, dịch bệnh, an ninh, quốc phòng.
Việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản thể hiện bước tiến trong hoàn thiện khuôn khổ pháp luật chuyên ngành, đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh mới. Luật là căn cứ quan trọng để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thống nhất, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản, qua đó góp phần bảo đảm sử dụng hợp lý, tiết kiệm và lâu dài nguồn tài nguyên quốc gia./.
Nguyễn Giang
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

Xem thêm »