Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng theo hướng xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp; khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong hoạt động đầu tư xây dựng; ngày 10/12/2025, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Xây dựng số 135/2025/QH15. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Luật Xây dựng (sửa đổi) được Quốc hội thông qua với tỉ lệ tán thành rất cao
Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 bao gồm 8 Chương và 95 Điều
[1] quy định về những nội dung chủ yếu sau:
- Thứ nhất, về cấp giấy phép xây dựng: Thực hiện nguyên tắc từ giai đoạn chuẩn bị đến thời điểm khởi công xây dựng, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng chỉ kiểm soát 01 lần đối với mỗi dự án, công trình xây dựng. Theo đó, các dự án/công trình đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi xây dựng thì được
miễn giấy phép xây dựng.
Đối với các công trình còn lại, đơn giản hóa thủ tục: (i) thực hiện thủ tục trực tuyến toàn trình; (ii) đơn giản hóa về hồ sơ và điều kiện; (iii) giảm tối đa thời gian cấp giấy phép (dự kiến tối đa 07 ngày).
- Thứ hai, sửa đổi quy định về phân loại dự án đầu tư xây dựng: Thực hiện phân loại dự án đầu tư xây dựng theo hình thức đầu tư (đầu tư công, PPP, đầu tư kinh doanh) thay cho phân loại theo nguồn vốn để đảm bảo phân định: các hoạt động đầu tư thực hiện theo các luật về đầu tư, các hoạt động xây dựng thực hiện theo Luật Xây dựng.
- Thứ ba, về lập, thẩm định dự án đầu tư xây dựng: Luật bổ sung quy định cho phép người quyết định đầu tư được quyết định sử dụng các loại thiết kế tại Báo cáo nghiên cứu khả thi phù hợp với tính chất, yêu cầu kỹ thuật của dự án. Đơn giản nội dung thẩm định: cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ kiểm soát về an toàn xây dựng, phòng cháy chữa cháy, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, sự phù hợp với quy hoạch làm cơ sở lập dự án, các nội dung khác phân quyền cho người quyết định đầu tư, chủ đầu tư thực hiện.
- Thứ tư, về lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng: Bãi bỏ thủ tục thẩm định thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở tại cơ quan chuyên môn về xây dựng; phân quyền chủ đầu tư kiểm soát đối với tất cả các thiết kế xây dựng sau khi dự án đầu tư được phê duyệt; nâng cao vai trò, trách nhiệm của tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm tra trong các nội dung về chuyên môn đối với các thiết kế này.
- Thứ năm, sửa đổi quy định về hình thức quản lý dự án: Luật sửa đổi hình thức “Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực” thành “Ban quản lý đầu tư xây dụng”; đối với các hình thức còn lại gộp chung thành “chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án” để tăng tính chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, phù hợp với việc sắp xếp lại bộ máy chính quyền trung ương, chính quyền địa phương 02 cấp.
- Thứ sáu, về xác định, quản lý chi phí: Quy định rõ về khái niệm, nội dung, cách xác định, quản lý chi phí đầu tư, hệ thống công cụ định mức, giá xây dựng. Sửa đổi quy định liên quan đến việc sử dụng, tham khảo các công cụ này trong việc xác định chi phí đầu tư xây dựng, đảm bảo thuận tiện, linh hoạt, phù hợp với các cơ chế đặc thù.
- Thứ bảy về quản lý hợp đồng: Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với quy định của Luật Đấu thầu, Bộ luật Dân sự năm 2015 và nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong giao kết hợp đồng.
- Thứ tám, về quản lý năng lực hoạt động xây dựng: Luật bãi bỏ yêu cầu về điều kiện năng lực và chứng chỉ năng lực của doanh nghiệp; cắt giảm một số lĩnh vực không yêu cầu chứng chỉ hành nghề của cá nhân.
- Thứ chín, sửa đổi, bổ sung quy định nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước; khuyến khích sử dụng vật liệu, công trình xanh, thông minh, thân thiện môi trường, hiệu quả năng lượng; khuyến khích ứng dụng kỹ thuật, công nghệ xây dựng, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, và đổi mới sáng tạo.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo giải trình
Bên cạnh đó, luật bổ sung các quy định về: (i) Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng nhằm "định danh công trình" và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công; (ii) Quản lý trật tự xây dựng nhằm bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý khi đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; (iii) Quy trình rút gọn đối với dự án đầu tư công đặc biệt; (iv) “Bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng xây dựng”; ưu tiên sử dụng trọng tải trong nước để giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng đối với các dự án công; bổ sung các quy định về bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng; (v) Lấy ý kiến về đảm bảo quốc phòng, an ninh đối với dự án/công trình theo danh mục Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định; (vi) Bổ sung một điều tại Chương điều khoản thi hành để sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của các luật có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng.
Giang Nguyễn
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
[1] Gồm: Chương I. Những quy định chung, gồm 15 điều (từ Điều 1 đến Điều 15); Chương II. Quản lý dự án đầu tư xây dựng, gồm 27 điều (từ Điều 16 đến Điều 42); Chương III. Giấy phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng. gồm 05 điều (từ Điều 43 đến Điều 47); Chương IV. Xây dựng công trình, gồm 25 điều (từ Điều 48 đến Điều 72); Chương V. Chi phi đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng, gồm 15 điều (từ Điều 73 đến Điều 87); Chương VI. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, gồm 3 điều (từ Điều 88 đến Điều 90); Chương VII. Quản lý nhà nước về xây dựng. gồm 02 điều (từ Điều 91 đến Điều 92); Chương VIII. Điều khoản thi hành, gồm 03 điều (Điều 93 đến Điều 95).