Kết quả 02 năm thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2024 – 2030”

14/01/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Sau 02 năm triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2024–2030” theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chất lượng đội ngũ hòa giải viên từng bước nâng cao, hàng nghìn mâu thuẫn, tranh chấp được giải quyết kịp thời ngay từ cơ sở, góp phần giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư, giữ vững an ninh trật tự và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.

1. Chủ động chỉ đạo, triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương: Ngay sau khi Đề án được phê duyệt, Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch triển khai, hướng dẫn cụ thể tới các địa phương. Công tác chỉ đạo được thực hiện kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ, các tỉnh, thành phố đã chủ động ban hành kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn; đồng thời chú trọng các nội dung trọng tâm như: kiện toàn tổ hòa giải, tập huấn viên, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho hòa giải viên, xây dựng mô hình cấp xã điển hình về hòa giải ở cơ sở...Đáng chú ý, dù có sự thay đổi về địa giới hành chính và tổ chức bộ máy, việc triển khai Đề án vẫn được duy trì liên tục, không bị gián đoạn, thể hiện sự quyết tâm và trách nhiệm cao của các cấp, các ngành.
2. Triển khai hiệu quả mô hình chỉ đạo điểm, bám sát thực tiễn: Một trong những điểm nhấn của Đề án là việc lựa chọn 30 đơn vị cấp xã thuộc 15 tỉnh, thành phố đại diện các vùng miền để thực hiện chỉ đạo điểm. Các địa phương đã chủ động rà soát, điều chỉnh địa bàn xã chỉ đạo điểm phù hợp sau sáp nhập, bảo đảm việc triển khai thực hiện Đề án, thực hiện chỉ đạo điểm được thông suốt và sát thực tế. Thực hiện Đề án, Bộ Tư pháp đã tiến hành khảo sát tại một số tỉnh, thành phố, thông qua hoạt động khảo sát tại các địa phương như Hà Tĩnh, Gia Lai, Thanh Hóa, Cà Mau, có thể đánh giá đa số hòa giải viên là người có uy tín trong cộng đồng, giàu kinh nghiệm thực tiễn nhưng còn hạn chế về kỹ năng chuyên sâu và kiến thức pháp luật. Từ kết quả khảo sát, có thể thấy nhu cầu tập huấn, bồi dưỡng cho hòa giải viên ở cơ sở cần tập trung vào các lĩnh vực thường phát sinh tranh chấp như đất đai, dân sự, hôn nhân và gia đình; đồng thời chú trọng rèn luyện kỹ năng như lắng nghe, thuyết phục, tổ chức buổi hòa giải.
3. Đẩy mạnh tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên: Trong 02 năm, Bộ Tư pháp đã phối hợp tổ chức 14 hội nghị tập huấn trực tiếp tại cơ sở cho hòa giải viên tại các địa phương làm điểm. Song song với đó, các tỉnh, thành phố đã tổ chức hàng trăm lớp tập huấn với hàng nghìn lượt hòa giải viên tham gia. Các lớp tập huấn được đánh giá cao nhờ nội dung thiết thực, phương pháp truyền đạt dễ hiểu, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Hòa giải viên không chỉ được trang bị kiến thức pháp luật mà còn có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, xử lý tình huống thực tế. Bên cạnh đó, việc ban hành chương trình khung bồi dưỡng và biên soạn tài liệu chuyên sâu đã góp phần chuẩn hóa nội dung đào tạo, tạo điều kiện để các địa phương triển khai thống nhất, hiệu quả.
4. Nhân rộng mô hình hay, cách làm sáng tạo: Nhiều mô hình hòa giải hiệu quả đã được xây dựng và nhân rộng tại các địa phương, tiêu biểu như: “Tổ hòa giải 05 tốt”, “Hòa giải gắn với tuyên truyền pháp luật”, “Mỗi tổ hòa giải có ít nhất một luật gia”, “Hòa giải tại nơi xảy ra tranh chấp”…Các mô hình này không chỉ nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc mà còn góp phần giảm thiểu đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, giữ gìn tình làng nghĩa xóm và ổn định trật tự xã hội. Đồng thời, việc huy động sự tham gia của lực lượng luật sư, luật gia, cán bộ tư pháp, người có uy tín trong cộng đồng bước đầu được triển khai, tạo thêm nguồn lực hỗ trợ cho công tác hòa giải.
5. Tăng cường truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin: Công tác truyền thông về hòa giải ở cơ sở được đẩy mạnh trên nhiều kênh, từ báo chí, truyền hình đến hệ thống loa truyền thanh cơ sở và các nền tảng số. Hàng nghìn tin, bài, tài liệu đã được đăng tải, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của hòa giải. Việc số hóa tài liệu giúp hòa giải viên dễ dàng tiếp cận, tra cứu và áp dụng vào thực tiễn.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn tồn tại một số khó khăn, thách thức cần tháo gỡ: Chất lượng triển khai chưa đồng đều giữa các địa phương; Một số nơi chưa quan tâm tổ chức được tập huấn thường xuyên cho hòa giải viên; Nguồn kinh phí còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; Việc huy động nguồn lực xã hội và đội ngũ chuyên gia pháp luật còn khó khăn; Ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế do đặc thù độ tuổi của hòa giải viên. Những hạn chế này đòi hỏi cần có giải pháp đồng bộ, lâu dài để nâng cao hiệu quả thực hiện Đề án trong thời gian tới.
Trong giai đoạn tiếp theo, Đề án sẽ tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên; Đa dạng hóa hình thức tập huấn, chú trọng kỹ năng thực hành; Nhân rộng các mô hình hiệu quả; Tăng cường phối hợp liên ngành và huy động nguồn lực xã hội; Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác hòa giải; Hoàn thiện thể chế, đặc biệt là xây dựng Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Thực tiễn 02 năm triển khai Đề án 315 cho thấy, hòa giải ở cơ sở không chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp đơn thuần mà còn là “cầu nối” gắn kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy tinh thần đoàn kết trong Nhân dân. Với sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Tư pháp và sự vào cuộc tích cực của các địa phương, Đề án đang từng bước phát huy hiệu quả, góp phần xây dựng xã hội ổn định, kỷ cương và phát triển bền vững từ cơ sở./.
Đinh Quỳnh Mây
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

Xem thêm »