Trợ giúp pháp lý cho trẻ em là nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng – một vấn đề còn mới và nhiều thử thách

23/05/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Kết nối và sử dụng Internet là xu thế chung của xã hội, việc tham gia hoạt động, kết nối, sử dụng các dịch vụ trên môi trường mạng hiện nay đang được trẻ em, người dưới 18 tuổi ngày càng phổ biến. Theo đánh giá, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng internet nhanh nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong đó trên một phần ba số người dùng internet ở Việt Nam (38%) là vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi từ 15-24[1]. Mặc dù việc phát triển của công nghệ thông tin, internet mở ra nhiều cơ hội học tập, giao lưu, phát triển cá nhân nhưng bên cạnh đó nó cũng tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ do việc sử dụng công nghệ thông tin, internet, vì môi trường mạng là không gian không bị giới hạn về thời gian, địa lý, nguồn thông tin trong đó có nguồn thông tin độc hại, thiếu lành mạnh và là không gian để các cá nhân, tổ chức xấu lợi dụng các ứng dụng trên mạng, các nền tảng mạng xã hội để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong đó đối tượng các cá nhân, tổ chức này hướng tới là trẻ em và người chưa thành niên. Do trẻ em và người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, nhận thức về mặt xã hội còn ở mức độ nên các em luôn có nguy cơ bị các đối tượng xấu lợi dụng, thực hiện các hành vi gây tổn hại về thể chất, tinh thần khi bản thân các em tham gia hoạt động, tương tác trên môi trường mạng.

Các nguy cơ mà trẻ em có thể bị dụ dỗ và trở thành nạn nhân của các hành vi như: bị dụ dỗ, xâm hại tình dục trực tuyến, nạn nhân của các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, nạn nhân của trong những vụ việc bắt nạt, bạo lực học đường, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bị mua bán thông tin, sử dụng trái phép hình ảnh cá nhân, nạn nhân của tội phạm mua bán người…Theo báo cáo thống kê, từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2019 có 16.637 trẻ em bị xâm hại được phát hiện đến mức phải xử lý hình sự, hành chính người có hành vi vi phạm (trung bình một ngày có 05 em bị xâm hại) trong đó bị xâm hại tình dục là 12.782 em (chiếm tỷ lệ 76,83%), trẻ em bị bạo lực là 3.855 em (chiếm tỷ lệ 23, 17%). Trong số trẻ em bị xâm hại tình dục có 319 đối tượng sử dụng công nghệ thông tin – mạng xã hội để dụ dỗ, hãm hại các em. Tuy vậy, những con số nêu trên chỉ là số liệu thông kê được, còn trên thực tế có thể cao hơn rất nhiều[1].
Theo thống kê, năm 2023, cả nước xảy ra 2.498 vụ xâm hại trẻ em, tăng 9,2% về số vụ so với năm 2022, trong đó xâm hại tình dục trẻ em chiếm 82,2%. Trong 8 tháng đầu năm 2024, trên toàn quốc đã điều tra, khởi tố 1.198 vụ với 1.419 bị can liên quan đến các hành vi xâm hại, bạo hành trẻ em. Đồng thời xử lý hành chính 48 vụ, 125 đối tượng. Trong đó, nhóm hành vi bạo hành trẻ em chiếm 12%, còn lại là xâm hại trẻ em. Các địa phương có số vụ xâm hại, bạo hành xảy ra nhiều như: Hà Nội, Thái Bình, Hoà Bình, Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ, Lâm Đồng[2]...
Để chăm sóc, bảo vệ trẻ em, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách được thể hiện trong các nghị quyết, văn kiện quan trọng của như: Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra mục tiêu “xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán”.
Thể chế các chủ trương của Đảng trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, Hiến pháp 2013, Điều 37 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”[3]. Để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, Luật Trẻ em năm 2016, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong đó có hành vi: “Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em[4], Luật An ninh mạng năm 2018 quy định: “1.Trẻ em có quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, giữ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác khi tham gia trên không gian mạng. 2. Chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng có trách nhiệm kiểm soát nội dung thông tin trên hệ thống thông tin hoặc trên dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp để không gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em; ngăn chặn việc chia sẻ và xóa bỏ thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em; kịp thời thông báo, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xử lý. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong bảo đảm quyền của trẻ em trên không gian mạng, ngăn chặn thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em theo quy định của Luật này và pháp luật về trẻ em. 4. Cơ quan, tổ chức, cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và cá nhân khác liên quan có trách nhiệm bảo đảm quyền của trẻ em, bảo vệ trẻ em khi tham gia không gian mạng theo quy định của pháp luật về trẻ em. 5. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và các cơ quan chức năng có trách nhiệm áp dụng biện pháp để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi sử dụng không gian mạng gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em[5]; Luật Công nghệ thông tin năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em: “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm mục đích sau đây: b) Kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và Nhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc”; Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em có các quy định về bảo vệ thông tin, bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em, Bảo đảm an toàn cho trẻ em trong việc trao đổi, cung cấp thông tin trên môi trường mạng và Các biện pháp hỗ trợ, can thiệp trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng[6]. Cùng với đó, ngày 23/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 468/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030”. Chương trình này chứa các mục tiêu, chiến lược và biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các nguy cơ và hậu quả tiêu cực khi sử dụng Internet và không gian mạng.
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý thì trẻ em là đối tượng được trợ giúp pháp lý ở tất cả các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại) và theo cả ba hình thức: tư vấn, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng. Do vậy, trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi vi phạm pháp luật trên môi trường mạng thì bản thân các em hoặc người thân có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý. Việc trợ giúp pháp lý cho trẻ em là nạn nhân của các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được thực hiện giống như với vụ việc trợ giúp pháp lý khác, đó là: việc tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý của đối tượng, điều kiện để thụ lý vụ việc, đối tượng được trợ giúp pháp lý, việc cử người thực hiện trợ giúp pháp lý, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý… đều phải bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện trực tiếp cho trẻ em là nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, thì đòi hỏi người thực hiện TGPL phải có một số kiến thức và kỹ năng nhất định để thực hiện được vụ việc. Sau đây là một số điểm cần lưu ý đối với người thực hiện TGPL khi thực hiện vụ việc TGPL của trẻ em là bị hại trên không gian mạng:
Thứ nhất, người thực hiện TGPL phải có kiến thức để phân loại được các dạng xâm hại đối với trẻ em trên môi trường mạng thuộc dạng hành vi nào: bị xâm hại tình dục, nạn nhân của hành vi mua bán người, nạn nhân của hành vi bắt nạt, đe doạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…
Thứ hai, người thực hiện TGPL phải có kỹ năng phối hợp trong quá trình thực hiện vụ việc, nhất là việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm và kỹ thuật trong việc quản lý về an ninh mạng để có sự hỗ trợ về mặt công nghệ cũng như nghiệp vụ mạng giúp cho người thực hiện TGPL trong việc tìm kiếm, thu thập thông tin vụ việc.
Thứ ba, người thực hiện TGPL phải có kiến thức về công nghệ thông tin và kỹ năng tìm kiếm thông tin vụ việc là một kỹ năng cực kỳ quan trọng để thực hiện vụ việc TGPL cho trẻ em là nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Thứ tư, người thực hiện TGPL phải có kỹ năng thu thập, bảo quản, đánh giá, sử dụng chứng cứ điện tử trong vụ việc TGPL. Kỹ năng này đòi hỏi người thực hiện TGPL phải nắm rõ quy định của pháp luật về chứng cứ điện tử cũng như việc thu thập, bảo quản, đánh giá, sử dụng chứng cứ điện tử để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc.
 
 
Bùi Như Lan, Phòng Quản lý trợ giúp pháp lý
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
 

[1] Báo cáo nghiên cứu về pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng ở Việt Nam (tr34)
[2] https://congan.nghean.gov.vn/thong-tin-chuyen-de/canh-bao-toi-pham/202411/canh-bao-tinh-trang-xam-hai-tre-em-tren-moi-truong-mang-1027651/
[3] Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013
[4] Điều 6 Luật Trẻ em 2016 sửa đổi, bổ sung năm 2018
[5] Điều 29 Luật An ninh mạng năm 2018
[6] Điều 33, 34, 35, 37 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em
 

[1] Báo cáo nghiên cứu về pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng ở Việt Nam (tr8)

Xem thêm »