Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định về người được trợ giúp pháp lý và các vấn đề có liên quan như tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Diện người được trợ giúp pháp lý là một vấn đề được quan tâm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trợ giúp pháp lý. Diện người được trợ giúp pháp lý dần được mở rộng theo từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và nhu cầu tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật của người yếu thế.

Diện người được trợ giúp pháp lý theo pháp luật hiện hành
Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, khoản 6 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, khoản 1 Điều 61 Luật Phòng, chống mua bán người có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, thì những người sau đây là người được trợ giúp pháp lý miễn phí:
1. Người có công với cách mạng
Theo quy định tại Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, liệt sỹ; bà mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31/12/1993, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng.
2. Người thuộc hộ nghèo
Theo quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 thì chuẩn hộ nghèo như sau: Ở khu vực nông thôn, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Ở khu vực thành thị là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.
3. Trẻ em
Theo quy định của Luật Trẻ em, trẻ em là người dưới 16 tuổi.
4. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc thì dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam. Theo Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thì việc phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân.
Đây là người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Trước ngày 01/01/2026, chỉ có người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự có khó khăn về tài chính có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí.
6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
Theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Theo quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 thì chuẩn hộ cận nghèo như sau: Ở khu vực nông thôn, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
7. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.
Đây là các diện người mới được mở rộng, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Phòng, chống mua bán người, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Trước ngày 01/7/2025, nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người có khó khăn về tài chính mới là người được trợ giúp pháp lý.
8. Những người có khó khăn về tài chính thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; người nhiễm HIV. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 144/2027/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, điều kiện khó khăn về tài chính của những người thuộc trường hợp nêu trên là người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật.
Đề xuất bổ sung thêm diện người được trợ giúp pháp lý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017:
Triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra yêu cầu “mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước” và bối cảnh nghiên cứu, sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, với quan điểm lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm, vì vậy việc đề xuất nghiên cứu bổ sung thêm người bị thiệt hại là cá nhân theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quyền trợ giúp pháp lý miễn phí là cần thiết vì họ bị thiệt hại về vật chất, về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị ảnh hưởng, bị xâm phạm thì cũng chính là lúc họ trở nên yếu thế, cần được giúp đỡ để được tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng đang quy định một trong những quyền của người yêu cầu bồi thường là “Nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”. Do đó, việc rà soát, bổ sung diện người bị thiệt hại là cá nhân theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quyền trợ giúp pháp lý miễn phí là hợp lý và phù hợp với yêu cầu nghiên cứu mở rộng diện người được TGPL theo Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII./.
Thảo Ly
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý