Yêu cầu thực tiễn về hoàn thiện khung chính sách quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý

17/05/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In Gửi email

Trong bối cảnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đang được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đẩy mạnh nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và hiệu quả quản lý nhà nước, trợ giúp pháp lý (TGPL) là một chính sách quan trọng, có vai trò trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL. Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”. Theo quy định này, trợ giúp pháp lý là một dịch vụ pháp lý miễn phí do Nhà nước cung cấp và bảo đảm thực hiện.

Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập quy định: "Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước” là dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu và dịch vụ sự nghiệp công mang tính đặc thù của một số ngành, lĩnh vực thuộc danh mục do cấp có thẩm quyền ban hành, được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện[1]. Quyết định số 2069/QĐ-TTg, Quyết định số 2070/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định TGPL là dịch vụ sự nghiệp công lập thiết yếu[2] do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và trong quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngành Tư pháp, mỗi tỉnh, thành phố đều có Trung tâm TGPL nhà nước tại các tỉnh, thành phố để cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý; các Trung tâm TGPL nhà nước được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Trải qua 20 năm kể từ thời điểm Luật TGPL 2006 được Quốc hội khóa XI thông qua, hoạt động TGPL đã thực sự đi vào đời sống pháp luật, mang lại hiệu quả thiết thực giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo và các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước, bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận công lý và đạt được một số kết quả cụ thể như sau:
Về công tác xây dựng thể chế
Trong công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật về lĩnh vực TGPL ngày càng hoàn thiện, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, với sự ra đời của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, đặc biệt là Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16 sửa đổi một số điều Luật Trợ giúp pháp lý 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027) là những dấu ấn quan trọng trong công tác xây dựng thể chế về TGPL. Các văn bản quy phạm pháp luật về TGPL tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển bền vững của công tác TGPL theo hướng chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng TGPL và đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyềnđược tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là các nhóm “yếu thế” trong xã hội, phù hợp với các chính sách của Đảng và Nhà nước ta về an sinh và công bằng xã hội theo phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Đến nay, có thể khẳng định, khung pháp luật về TGPL đã tương đối hoàn chỉnh, thiết lập được một khuôn khổ pháp lý thống nhất, bài bản cho việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là nhóm người yếu và những người thuộc diện chính sách khác cần được quan tâm giúp đỡ thông qua các hoạt động TGPL liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các vụ việc TGPL.  
Về kết quả thực hiện vụ việc TGPL
  Với chính sách lấy người được trợ giúp pháp lý làm trọng tâm là nguyên tắc cốt lõi của hoạt động TGPL, đặc biệt là từ sau khi triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, số lượng và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được ngày càng được kiểm soát chặt chẽ, từng bước bảo đảm sự hài lòng của người được TGPL nói riêng và người dân nói chung đối với chất lượng dịch vụ pháp lý do các tổ chức trợ giúp pháp lý thực hiện.
Giai đoạn trước Luật Trợ giúp pháp lý 2017 (2015 – 2017): Toàn quốc thực hiện 307.493 vụ việc, trong đó có 27.674 vụ việc tham gia tố tụng (chiếm 9% tổng số vụ việc). Theo báo cáo của các địa phương, tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2025, toàn quốc có 262.147 vụ việc TGPL kết thúc, trong đó, có 163.820 vụ việc tham gia tố tụng, 96.066 vụ việc tư vấn pháp luật, 2.261 vụ việc đại diện ngoài tố tụng. Chất lượng vụ việc TGPL ngày càng được quan tâm, chú trọng. Nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng được đánh giá là hiệu quả, thành công. Số lượng vụ việc TGPL tham gia tố tụng tăng nhanh, minh chứng cho việc hệ thống tổ chức TGPL đã lớn mạnh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước dành cho công tác TGPL.
Về tổ chức bộ máy và nguồn lực thực hiện TGPL
Chất lượng nguồn nhân lực thực hiện TGPL được quan tâm chú trọng và từng bước được nâng lên, tất cả các trợ giúp viên pháp lý đều đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề, hạng chức danh, ngày càng thể hiện tính chuyên nghiệp, đồng thời tiêu chuẩn của người thực hiện TGPL đã có sự thay đổi khác biệt so với quy định của Luật TGPL năm 2006[3]. Việc quy định tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với tổ chức tham gia TGPL, người thực hiện TGPL đã thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ TGPL có chất lượng cho người thuộc diện được TGPL.
Đồng thời, để nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL, hằng năm, Bộ, ngành và địa phương tổ chức tập huấn cho đội ngũ người thực hiện TGPL. Ở trung ương, mỗi năm tổ chức trên 10 lớp, quy mô 40–60 học viên/lớp. Ở địa phương, trung bình mỗi tỉnh tổ chức khoảng 4 lớp/năm bằng ngân sách Trung ương hỗ trợ và nguồn lực địa phương. Nội dung tập huấn tập trung vào cập nhật kiến thức pháp luật, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng mềm và ứng dụng CNTT trong quản lý, cung cấp dịch vụ TGPL. Hoạt động này giúp đội ngũ người thực hiện TGPL từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.
Về công tác truyền thông, ứng dụng CNTT và chuyển đổi số
Công tác truyền thông về TGPL không ngừng được đổi mới theo các phương thức và được thực hiện đồng bộ ở cả Trung ương và địa phương. Hình thức truyền thông được thực hiện theo nhiều hình thức gồm hình thức truyền thống (trực tiếp về cơ sở, báo đài, tờ gấp…), truyền thông hiện đại (internet, điện thoại hotline,…) và hình thức đặc thù (hộp, bảng tin, tờ tin TGPL tại cơ quan tố tụng, chính quyền cơ sở…) kết hợp với việc tổ chức các hội nghị truyền thông điểm tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL cho người dân tại các khu vực này.
Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động TGPL được thực hiện bài bản, đồng bộ, mang lại hiệu quả trong công tác quản lý về TGPL. Cụ thể, từ năm 2019, Bộ Tư pháp đã vận hành Hệ thống quản lý TGPL, quản lý tập trung dữ liệu vụ việc, tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL trên toàn quốc. Năm 2024 hệ thống này đã kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đã bước đầu khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Người dùng có thể tra cứu thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên Hệ thống khi nhập thông tin về người được TGPL, người yêu cầu TGPL và người thực hiện TGPL.
Để có được những kết quả nêu trên là nhờ có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước quan tâm tới công tác TGPL cũng như sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Tư pháp, sự tham mưu của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý trong việc tham mưu, hoàn thiện thể chế, tổ chức triển khai thi hành pháp luật TGPL về TGPL. Cũng như sự đồng thuận, tích cực, chủ động của các tổ chức thực hiện TGPL ở địa phương, người thực hiện TGPL trong việc triển khai thi hành pháp luật TGPL và sự quan tâm, phối hợp với một số cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về TGPL...
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, dịch vụ TGPL còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: (i) Số lượng vụ việc TGPL, trong đó có số lượng vụ việc tham gia tố tụng hàng năm vẫn còn thấp so với số người thuộc diện TGPL và số lượng vụ án được xét xử trên trên toàn quốc. (ii) Một bộ phận người dân vẫn chưa biết về TGPL, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông đi lại khó khăn; (iii) Số lượng vụ việc TGPL tham gia tố tụng được đánh giá chất lượng còn chưa nhiều, chất lượng còn chưa đồng đều giữa các địa phương, công tác quản lý chất lượng, kiểm tra, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được triển khai thường xuyên…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trong, trong đó có nguyên nhân khách quan là hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đối với các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực TGPL. Việc thiếu chuẩn mực thống nhất khiến công tác giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực TGPL trong đó có Trung tâm TGPL nhà nước ở các tỉnh, thành phố chưa được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống.
Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đối với các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực TGPL là rất cần thiết,  việc ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sẽ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, bảo đảm sử dụng ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả và nâng cao trách nhiệm giải trình của đơn vị cung cấp dịch vụ công. Đồng thời, hệ thống tiêu chí chất lượng sẽ giúp phát hiện, khắc phục kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình cung cấp dịch vụ nhằm không ngừng cải thiện mức độ hài lòng của người dân nói chung và người được TGPL nói riêng.
Bùi Như Lan, Phòng Quản lý trợ giúp pháp lý
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
 

[1] Điều 3 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ
[2] Quyết định số 2069/QĐ-TTg, Quyết định số 2070/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ.
[3] Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý - người thực hiện TGPL chuyên trách hiện nay đã tương đương với tiêu chuẩn của luật sư; tư vấn viên pháp luật phải có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên; cộng tác viên TGPL là những người có kinh nghiệm pháp luật lâu năm về hưu để bảo đảm chất lượng cũng như tránh trường hợp đăng ký tham gia TGPL nhưng không thực hiện vụ việc TGPL.

Xem thêm »