12/02/2026
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Những nội dung cơ bản khi đánh giá thủ tục hành chính trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lýTheo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, thì cải cách thủ tục hành chính được coi là một trong sáu nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng một bộ máy hành chính minh bạch, liêm chính và hiệu quả. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý (TGPL), việc cải cách thủ tục hành chính không chỉ là việc đơn giản hóa tối đa các quy trình, thủ tục đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý, mà đó còn là nâng cao khả năng quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân, và đây cũng chính là nội dung được đề cập trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.Hiện nay, trong lĩnh vực TGPL có 12 thủ tục hành chính, các thủ tục này được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có thể chia chúng làm 03 nhóm, cụ thể như sau:
Nhóm một, nhóm các thủ tục liên quan đến người được trợ giúp pháp lý, bao gồm 04 thủ tục sau: Yêu cầu trợ giúp pháp lý; rút yêu cầu trợ giúp pháp lý; thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý; giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý.
Nhóm hai, nhóm các thủ tục liên quan đến người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm 03 thủ tục sau: Thủ tục lựa chọn, ký hợp đồng với luật sư; thủ tục cấp thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý; cấp lại thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Nhóm ba, nhóm các thủ tục liên quan đến tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm 05 thủ tục sau: Thủ tục đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục thay đổi nội dung Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục cấp lại Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục chấm dứt đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục lựa chọn, ký hợp đồng với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật.
Với số lượng thủ tục hành chính không nhiều và không phải phụ thuộc vào địa giới hành chính và cũng không thực hiện các bước liên thông, nên hiện tại các thủ tục hành chính trên đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và tổ chức khi liên hệ giải quyết công việc tại các tổ chức thực hiện TGPL. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong tình hình mới, nhất là sau khi Chính phủ ban hành các Nghị định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, cũng như sau khi Bộ Tư pháp ban hành các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ (Thông tư số 11/2025/TT-BTP; Thông tư số 08/2025/TT-BTP; Thông tư số 09/2025/TT-BTP) và đặc biệt, quán triệt các văn bản của Đảng và triển khai thực hiện các văn bản của Quốc hội, Chính phủ (Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026; Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026) và các Quyết định, Kế hoạch của Bộ (Quyết định số 3042/QĐ-BTP ngày 15/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch xây dựng hồ sơ dự án luật), Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (PBGDPL &TGPL) được Lãnh đạo Bộ Tư pháp giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL năm 2017.
Trong quá trình xây dựng Luật TGPL (sửa đổi), cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiến hành đánh giá các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục được quy định trong Luật (thủ tục yêu cầu TGPL và thủ tục khiếu nại về TGPL) trong trường hợp việc sửa đổi các nội dung trong Luật có tác động đến các thủ tục này, mục đích nhằm giúp xác định, đơn giản hóa và tránh phát sinh các thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết.
Với quan điểm bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận 119-KL/TW ngày 20/01/2025 về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới là “cơ bản không quy định thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ trong luật mà giao Chính phủ, các bộ quy định theo thẩm quyền nhưng không được đặt thêm thủ tục hành chính, phát sinh thêm giấy phép con so với hiện hành”, nên thay vì giữ nguyên các thủ tục được quy định trong Luật trước đây thì dự thảo lần này đã giao Chính phủ quy chi tiết. Do đó, việc đánh giá tác động thủ tục hành chính được tiến hành đối với nội dung sửa đổi các bộ phận cấu thành của từng thủ tục hành chính đó, theo đó:
Đối với Thủ tục yêu cầu trợ giúp pháp lý và thủ tục giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý (được quy định tại Điều 29, Điều 45 Luật TGPL năm 2017).
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung đối tượng thực hiện thủ tục hành chính này theo hướng mở rộng đối tượng người được trợ giúp pháp lý, đó là:
Thứ nhất, bỏ điều kiện có khó khăn về tài chính của ngươi khuyết tật do tính chất đặc thù của người khuyết tật cần được hỗ trợ, giúp đỡ để có thể tiếp cận các dịch vụ, trong đó có dịch vụ pháp lý. Quy định này nhằm phù hợp với Luật Người khuyết tật, góp phần nội luật hóa cam kết của Việt Nam tại Công ước về quyền của người khuyết tật.
Thứ hai, bỏ điều kiện có khó khăn về tài chính của Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ và người nhiễm chất độc màu da cam do đây là các đối tượng đặc thù ở Việt Nam, được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước dựa trên chính sách nhân thân, cống hiến hoặc dựa trên tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ và phù hợp với Pháp lệnh về ưu đãi người có công với Cách mạng.
Thứ ba, bổ sung nhóm đối tượng: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân; nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; cá nhân bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người thuộc dân tộc thiểu số rất ít người; người thuộc hộ cận nghèo; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa hoặc các trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp hoặc các trường hợp bất khả kháng khác; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành viên.
Việc bổ sung các nhóm đối tượng bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với các luật chuyên ngành khác, như Luật Tư pháp người chưa thành niên; Luật Phòng chống mua bán người; Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật Điều ước quốc tế…
Đảm bảo tính tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, như các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 (CRPD)...
Như đã đề cập ở trên, việc mở rộng này không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, mặc dù có thể làm tăng số lượng yêu cầu TGPL nhưng giảm số lượng thủ tục hành chính trong mỗi hồ sơ yêu cầu TGPL; do người yêu cầu TGPL không phải có nhiều giấy tờ để chứng minh thuộc diện được TGPL như hiện nay.
Ví dụ, theo Dự thảo Luật, một số diện người yêu cầu TGPL sẽ không cần phải chứng minh các điều kiện “kép”. Chẳng hạn, người khuyết tật hiện nay phải cung cấp ít nhất đồng thời 02 loại giấy tờ, bao gồm giấy xác nhận khuyết tật và giấy tờ chứng minh thuộc hộ cận nghèo hoặc là người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng để được hưởng TGPL. Theo dự thảo Luật sửa đổi, người khuyết tật chỉ cần xuất trình giấy tờ chứng minh là người khuyết tật, giảm được 50% số giấy tờ phải xuất trình; giảm được 50% thủ tục xác minh của người tiếp nhận yêu cầu; giúp người dân thuộc diện TGPL tiếp cận TGPL nhanh chóng, thuận lợi hơn; đồng thời cũng giảm bớt thủ tục xác minh, xem xét, kiểm tra hồ sơ và lưu trữ hồ sơ của tổ chức thực hiện TGPL.
Việc mở rộng người được TGPL có thể làm tăng số lượng yêu cầu TGPL và tăng số lượng hồ sơ vụ việc TGPL cần giải quyết, trong đó có vụ việc giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình, thủ tục yêu cầu TGPL, số hóa hồ sơ vụ việc để tạo thuận lợi cho cả người yêu cầu TGPL, người thực hiện TGPL và người quản lý công tác TGPL.
Ngoài ra, đối với các thủ tục hành chính không được quy định trong Luật, nhưng cũng được đánh giá tác động, cụ thể:
Đối với Thủ tục cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Dự thảo Luật sửa đổi quy định tiêu chuẩn để có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý tại Điều 24 theo hướng bổ sung “Viên chức có bằng cử nhân luật và có kinh nghiệm làm công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc”.
Như vậy, dự thảo Luật không giới hạn chỉ một số nhóm người đã nghỉ hưu như hiện nay gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, các địa phương đều có thể có cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà không giới hạn chỉ “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” như quy định của Luật TGPL năm 2017. Những quy định này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới. Các thủ tục hiện hành về cấp thẻ cộng tác viên TGPL vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành. Hồ sơ giấy tờ và trình tự, thủ tục cụ thể giao cho Chính phủ quy định chi tiết.
Đối với Thủ tục cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Dự thảo Luật sửa đổi quy định việc cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong trường hợp thẻ bị mất, bị hỏng không sử dụng được tại khoản 5 Điều 24. Các thủ tục hiện hành về cấp lại thẻ cộng tác viên TGPL vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành không làm phát sinh thủ tục hành chính mới. Hồ sơ giấy tờ và trình tự, thủ tục cụ thể giao cho Chính phủ quy định chi tiết.
Đối với nhóm TTHC nội bộ giữa cơ quan nhà nước liên quan đến bổ nhiệm, miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
Dự thảo Luật bổ sung trường hợp không được bổ nhiệm trợ giúp pháp lý là“Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý kể cả trường hợp đã được xóa án tích.” để lựa chọn bổ nhiệm đủ tiêu chuẩn; bổ sung trường hợp người đã được cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý được cấp lại thẻ trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng hoặc bị thu hồi do chuyển công tác đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc tỉnh, thành phố khác; sửa đổi quy định trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý khi “không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 02 năm liên tục” tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật TGPL hiện hành để tăng trách nhiệm thực hiện vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý. Các quy định này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới và vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành.
Việc đánh giá tác động thủ tục hành chính là một quy định bắt buộc được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL đã được đơn vị chủ trì soạn thảo thực hiện đồng bộ với các quy trình khác trong quá trình xây dựng dự thảo Luật.
Có thể nói, việc đánh giá tác động thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung, trong đó có Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) không chỉ là một quy trình bắt buộc được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà là "bộ lọc" quan trọng để đảm bảo luật đi vào cuộc sống, có tác động đa chiều sâu rộng, đó là tác động đối với hiệu quả quản lý nhà nước, tác động đối với người dân và tác động đến chất lượng hệ thống pháp luật.
Văn Tuân
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
Theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, thì cải cách thủ tục hành chính được coi là một trong sáu nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng một bộ máy hành chính minh bạch, liêm chính và hiệu quả. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý (TGPL), việc cải cách thủ tục hành chính không chỉ là việc đơn giản hóa tối đa các quy trình, thủ tục đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý, mà đó còn là nâng cao khả năng quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của người dân, và đây cũng chính là nội dung được đề cập trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

Hiện nay, trong lĩnh vực TGPL có 12 thủ tục hành chính, các thủ tục này được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có thể chia chúng làm 03 nhóm, cụ thể như sau:
Nhóm một, nhóm các thủ tục liên quan đến người được trợ giúp pháp lý, bao gồm 04 thủ tục sau: Yêu cầu trợ giúp pháp lý; rút yêu cầu trợ giúp pháp lý; thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý; giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý.
Nhóm hai, nhóm các thủ tục liên quan đến người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm 03 thủ tục sau: Thủ tục lựa chọn, ký hợp đồng với luật sư; thủ tục cấp thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý; cấp lại thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Nhóm ba, nhóm các thủ tục liên quan đến tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm 05 thủ tục sau: Thủ tục đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục thay đổi nội dung Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục cấp lại Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục chấm dứt đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý; thủ tục lựa chọn, ký hợp đồng với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật.
Với số lượng thủ tục hành chính không nhiều và không phải phụ thuộc vào địa giới hành chính và cũng không thực hiện các bước liên thông, nên hiện tại các thủ tục hành chính trên đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và tổ chức khi liên hệ giải quyết công việc tại các tổ chức thực hiện TGPL. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong tình hình mới, nhất là sau khi Chính phủ ban hành các Nghị định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, cũng như sau khi Bộ Tư pháp ban hành các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ (Thông tư số 11/2025/TT-BTP; Thông tư số 08/2025/TT-BTP; Thông tư số 09/2025/TT-BTP) và đặc biệt, quán triệt các văn bản của Đảng và triển khai thực hiện các văn bản của Quốc hội, Chính phủ (Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026; Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026) và các Quyết định, Kế hoạch của Bộ (Quyết định số 3042/QĐ-BTP ngày 15/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch xây dựng hồ sơ dự án luật), Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (PBGDPL &TGPL) được Lãnh đạo Bộ Tư pháp giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL năm 2017.
Trong quá trình xây dựng Luật TGPL (sửa đổi), cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiến hành đánh giá các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục được quy định trong Luật (thủ tục yêu cầu TGPL và thủ tục khiếu nại về TGPL) trong trường hợp việc sửa đổi các nội dung trong Luật có tác động đến các thủ tục này, mục đích nhằm giúp xác định, đơn giản hóa và tránh phát sinh các thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết.
Với quan điểm bám sát chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận 119-KL/TW ngày 20/01/2025 về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới là “cơ bản không quy định thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ trong luật mà giao Chính phủ, các bộ quy định theo thẩm quyền nhưng không được đặt thêm thủ tục hành chính, phát sinh thêm giấy phép con so với hiện hành”, nên thay vì giữ nguyên các thủ tục được quy định trong Luật trước đây thì dự thảo lần này đã giao Chính phủ quy chi tiết. Do đó, việc đánh giá tác động thủ tục hành chính được tiến hành đối với nội dung sửa đổi các bộ phận cấu thành của từng thủ tục hành chính đó, theo đó:
Đối với Thủ tục yêu cầu trợ giúp pháp lý và thủ tục giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý (được quy định tại Điều 29, Điều 45 Luật TGPL năm 2017).
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung đối tượng thực hiện thủ tục hành chính này theo hướng mở rộng đối tượng người được trợ giúp pháp lý, đó là:
Thứ nhất, bỏ điều kiện có khó khăn về tài chính của ngươi khuyết tật do tính chất đặc thù của người khuyết tật cần được hỗ trợ, giúp đỡ để có thể tiếp cận các dịch vụ, trong đó có dịch vụ pháp lý. Quy định này nhằm phù hợp với Luật Người khuyết tật, góp phần nội luật hóa cam kết của Việt Nam tại Công ước về quyền của người khuyết tật.
Thứ hai, bỏ điều kiện có khó khăn về tài chính của Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ và người nhiễm chất độc màu da cam do đây là các đối tượng đặc thù ở Việt Nam, được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước dựa trên chính sách nhân thân, cống hiến hoặc dựa trên tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ và phù hợp với Pháp lệnh về ưu đãi người có công với Cách mạng.
Thứ ba, bổ sung nhóm đối tượng: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân; nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; cá nhân bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người thuộc dân tộc thiểu số rất ít người; người thuộc hộ cận nghèo; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa hoặc các trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp hoặc các trường hợp bất khả kháng khác; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành viên.
Việc bổ sung các nhóm đối tượng bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với các luật chuyên ngành khác, như Luật Tư pháp người chưa thành niên; Luật Phòng chống mua bán người; Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật Điều ước quốc tế…
Đảm bảo tính tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, như các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 (CRPD)...
Như đã đề cập ở trên, việc mở rộng này không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, mặc dù có thể làm tăng số lượng yêu cầu TGPL nhưng giảm số lượng thủ tục hành chính trong mỗi hồ sơ yêu cầu TGPL; do người yêu cầu TGPL không phải có nhiều giấy tờ để chứng minh thuộc diện được TGPL như hiện nay.
Ví dụ, theo Dự thảo Luật, một số diện người yêu cầu TGPL sẽ không cần phải chứng minh các điều kiện “kép”. Chẳng hạn, người khuyết tật hiện nay phải cung cấp ít nhất đồng thời 02 loại giấy tờ, bao gồm giấy xác nhận khuyết tật và giấy tờ chứng minh thuộc hộ cận nghèo hoặc là người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng để được hưởng TGPL. Theo dự thảo Luật sửa đổi, người khuyết tật chỉ cần xuất trình giấy tờ chứng minh là người khuyết tật, giảm được 50% số giấy tờ phải xuất trình; giảm được 50% thủ tục xác minh của người tiếp nhận yêu cầu; giúp người dân thuộc diện TGPL tiếp cận TGPL nhanh chóng, thuận lợi hơn; đồng thời cũng giảm bớt thủ tục xác minh, xem xét, kiểm tra hồ sơ và lưu trữ hồ sơ của tổ chức thực hiện TGPL.
Việc mở rộng người được TGPL có thể làm tăng số lượng yêu cầu TGPL và tăng số lượng hồ sơ vụ việc TGPL cần giải quyết, trong đó có vụ việc giải quyết khiếu nại về trợ giúp pháp lý. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình, thủ tục yêu cầu TGPL, số hóa hồ sơ vụ việc để tạo thuận lợi cho cả người yêu cầu TGPL, người thực hiện TGPL và người quản lý công tác TGPL.
Ngoài ra, đối với các thủ tục hành chính không được quy định trong Luật, nhưng cũng được đánh giá tác động, cụ thể:
Đối với Thủ tục cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Dự thảo Luật sửa đổi quy định tiêu chuẩn để có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý tại Điều 24 theo hướng bổ sung “Viên chức có bằng cử nhân luật và có kinh nghiệm làm công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc”.
Như vậy, dự thảo Luật không giới hạn chỉ một số nhóm người đã nghỉ hưu như hiện nay gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, các địa phương đều có thể có cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà không giới hạn chỉ “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” như quy định của Luật TGPL năm 2017. Những quy định này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới. Các thủ tục hiện hành về cấp thẻ cộng tác viên TGPL vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành. Hồ sơ giấy tờ và trình tự, thủ tục cụ thể giao cho Chính phủ quy định chi tiết.
Đối với Thủ tục cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Dự thảo Luật sửa đổi quy định việc cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong trường hợp thẻ bị mất, bị hỏng không sử dụng được tại khoản 5 Điều 24. Các thủ tục hiện hành về cấp lại thẻ cộng tác viên TGPL vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành không làm phát sinh thủ tục hành chính mới. Hồ sơ giấy tờ và trình tự, thủ tục cụ thể giao cho Chính phủ quy định chi tiết.
Đối với nhóm TTHC nội bộ giữa cơ quan nhà nước liên quan đến bổ nhiệm, miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý
Dự thảo Luật bổ sung trường hợp không được bổ nhiệm trợ giúp pháp lý là“Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý kể cả trường hợp đã được xóa án tích.” để lựa chọn bổ nhiệm đủ tiêu chuẩn; bổ sung trường hợp người đã được cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý được cấp lại thẻ trong trường hợp thẻ bị mất, bị hư hỏng hoặc bị thu hồi do chuyển công tác đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc tỉnh, thành phố khác; sửa đổi quy định trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý khi “không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 02 năm liên tục” tại điểm d khoản 1 Điều 22 Luật TGPL hiện hành để tăng trách nhiệm thực hiện vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý. Các quy định này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới và vẫn được tiếp tục thực hiện như quy định hiện hành.
Việc đánh giá tác động thủ tục hành chính là một quy định bắt buộc được quy định trong Luật Ban hành VBQPPL đã được đơn vị chủ trì soạn thảo thực hiện đồng bộ với các quy trình khác trong quá trình xây dựng dự thảo Luật.
Có thể nói, việc đánh giá tác động thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung, trong đó có Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) không chỉ là một quy trình bắt buộc được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà là "bộ lọc" quan trọng để đảm bảo luật đi vào cuộc sống, có tác động đa chiều sâu rộng, đó là tác động đối với hiệu quả quản lý nhà nước, tác động đối với người dân và tác động đến chất lượng hệ thống pháp luật.
Văn Tuân
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý