12/03/2026
Xem cỡ chữ
Đọc bài viết
In
Gửi email
Dự kiến những tác động khi mở rộng diện người được trợ giúp pháp lýQuy định về người thuộc diện được trợ giúp pháp lý luôn được quan tâm và trở thành một chế định quan trọng của pháp luật trợ giúp pháp lý. Qua các thời kỳ, chế định người được trợ giúp pháp lý luôn được nghiên cứu, hoàn thiện để ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn của đất nước và đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý của người nghèo, người yếu thế, người dễ tổn thương trong xã hội. Thực hiện Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt Chương trình lập pháp năm 2026, hiện nay Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đang được sửa đổi, bổ sung. Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo Luật là sửa đổi, bổ sung diện người được trợ giúp pháp lý. Dự thảo Luật sửa đổi một số diện người được TGPL nhằm bảo đảm tối đa quyền được tiếp cận pháp luật, TGPL cho các đối tượng đặc thù, phù hợp với thông lệ quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo dự thảo Luật, diện người được trợ giúp pháp lý được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung người bị nhiễm chất độc hóa học theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng nhằm thể hiện sự quan tâm, tri ân của Đảng và Nhà nước đối với người chịu ảnh hưởng của chiến tranh, đồng thời phù hợp với chủ trương “mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước” tại Nghị quyết số 27-NQ/TW.
- Bổ sung người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người nhằm thực hiện toàn diện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước;
- Bổ sung người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai, hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này;
- Bổ sung cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
- Bổ sung “Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý” nhằm nội luật hóa cam kết về bảo đảm quyền được TGPL trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên theo đúng quy định của Luật Điều ước quốc tế . Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì người nước ngoài là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam. Như vậy, quy định này thống nhất với điểm đ khoản 1 Điều 37 Luật Phòng, chống mua bán người có quy định về quyền được TGPL của người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.
- Bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật vì các lý do sau: Đây là nhóm đối tượng đặc thù về nhân thân hoặc bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần (nhóm người bị nhiễm chất độc da cam và người khuyết tật). Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng những người này không nhiều; số lượng thân nhân người có công và người nhiễm chất độc da cam cũng đang giảm dần theo thời gian. Việc quy định những nhóm này được TGPL mà không yêu cầu điều kiện “có khó khăn về tài chính” là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các chính sách tri ân người có công, thân nhân người có công của Đảng, Nhà nước, cũng như chủ trương “mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước” tại Nghị quyết số 27-NQ/TW. Việc quy định TGPL cho người khuyết tật, không giới hạn ở điều kiện có khó khăn về tài chính phù hợp kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Đảng uỷ Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật. Mở rộng TGPL cho tất cả người thuộc hộ cận nghèo; người hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng là người nhiễm HIV, người cao tuổi, người bị bạo lực gia đình trong vụ việc bạo lực gia đình.
1. Tác động đối với hệ thống pháp luật:
- Phù hợp với Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về “mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”.
- Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các Luật khác như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Điều ước quốc tế…
- Tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là quyền của người khuyết tật.
- Có thể phát sinh nhu cầu cần sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết về cơ chế, trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan có liên quan, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng tổ với các tổ chức thực hiện TGPL.
2. Tác động kinh tế - xã hội:
- Mở rộng diện người được TGPL góp phần nâng cao khả năng tiếp cận công lý, cải thiện an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ pháp lý.
- Giúp giảm khiếu kiện, tranh chấp, tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp, hành chính. Khi quyền tiếp cận pháp luật được mở rộng, niềm tin của người dân vào thể chế, pháp luật và chính quyền được củng cố, từ đó tạo môi trường xã hội ổn định, thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh; nâng cao uy tín quốc gia trong bảo vệ quyền của nhóm yếu thế.
- Ngân sách nhà nước chi cho TGPL tăng lên, nhất là trong 3-5 năm sau khi Luật có hiệu lực. Tuy vậy, xét về lâu dài, khi ý thức pháp luật tăng, văn hóa tuân thủ pháp luật được chú trọng, kinh tế xã hội phát triển thì số lượng người thuộc diện TGPL yêu cầu TGPL trên thực tế giảm đi. Ví dụ, số lượng người nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người nhiễm chất độc da cam…giảm dần. Thêm vào đó, không phải tất cả những người thuộc diện TGPL đều có vướng mắc pháp luật và yêu cầu TGPL. Vì vậy, việc mở rộng các nhóm đối tượng này góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững đất nước.
Theo ước tính, khi sửa đổi, bổ sung diện người được trợ giúp pháp lý sẽ phát sinh khoảng 11.000 vụ việc/năm. Hiện có hơn 1.900 người thực hiện TGPL, như vậy trung bình mỗi người thực hiện TGPL đảm nhận thêm khoảng gần 6 vụ/năm/người, không yêu cầu bổ sung người thực hiện TGPL hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Hiện nay kinh phí chi trả vụ việc TGPL là 2,8 triêụ/vụ. Do đó, ước tính kinh phí chi trả thực hiện số vụ việc này là khoảng 33 tỷ đồng/năm (trung bình gần 1 tỷ đồng/tỉnh/năm). Đây là chi phí trực tiếp cho thực hiện TGPL (chi trả thù lao cho luật sư, người thực hiện TGPL lý khác, chi phí đi lại, công tác phí…), không phát sinh chi phí hành chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chi phí gián tiếp khác.
Trong 8 năm qua, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng khoảng 2,5 lần, trong khi kinh phí ngân sách nhà nước chi cho công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) chỉ tăng khoảng 1,7 lần, tương ứng khoảng 105 tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ gia tăng chi ngân sách cho TGPL còn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung. Trong bối cảnh quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao (tăng 8,23% trong quý III/2025), Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khối ASEAN Với tiềm lực tài chính ngày càng được củng cố, Nhà nước hoàn toàn có khả năng cân đối, bố trí và tăng cường nguồn lực để đáp ứng yêu cầu mở rộng diện người được trợ giúp và các lĩnh vực trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, qua đó bảo đảm thực hiện hiệu quả chính sách “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
3. Tác động về giới:
- Việc sửa đổi Điều 7 không đề cập đến các quy định liên quan đến bình đẳng giới. Tuy nhiên chính sách mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý sẽ tác động tích cực đến phụ nữ và nam giới ở các nhóm khác nhau. Nữ giới là nhóm chịu ảnh hưởng nhiều trong các vụ bạo lực gia đình, mua bán người, bị hại trong các vụ án hình sự... Việc mở rộng phạm vi TGPL cho nhóm đối tượng này giúp giảm áp lực cho nhiều phụ nữ, tăng khả năng tiếp cận pháp lý, bảo đảm bình đẳng giới thực và bảo vệ nhóm yếu thế.
4. Tác động đối với thủ tục hành chính:
- Có thể làm tăng số lượng hồ sơ yêu cầu TGPL và hồ sơ vụ việc TGPL cần giải quyết. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình, thủ tục yêu cầu TGPL, thụ lý và giải quyết vụ việc TGPL để tạo thuận lợi cho cả người yêu cầu TGPL và người thực hiện TGPL.
- Các cơ quan, đặc biệt là các cơ quan tố tụng, chủ động giới thiệu đối tượng đến TGPL. Điều này có thể làm tăng thủ tục phối hợp hành chính nhưng quan trọng là tăng tính bảo đảm quyền con người.
- Tăng khối lượng quản lý, theo dõi, thống kê của các tổ chức thực hiện TGPL, đặc biệt là các Trung tâm TGPL nhà nước.
Phan Thu Hà
Trưởng phòng Quản lý Trợ giúp pháp lý, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
Quy định về người thuộc diện được trợ giúp pháp lý luôn được quan tâm và trở thành một chế định quan trọng của pháp luật trợ giúp pháp lý. Qua các thời kỳ, chế định người được trợ giúp pháp lý luôn được nghiên cứu, hoàn thiện để ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn của đất nước và đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý của người nghèo, người yếu thế, người dễ tổn thương trong xã hội.

Nguồn: https://phapluatphattrien.vn/tro-giup-phap-ly/
Thực hiện Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt Chương trình lập pháp năm 2026, hiện nay Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đang được sửa đổi, bổ sung. Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo Luật là sửa đổi, bổ sung diện người được trợ giúp pháp lý. Dự thảo Luật sửa đổi một số diện người được TGPL nhằm bảo đảm tối đa quyền được tiếp cận pháp luật, TGPL cho các đối tượng đặc thù, phù hợp với thông lệ quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo dự thảo Luật, diện người được trợ giúp pháp lý được sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung người bị nhiễm chất độc hóa học theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng nhằm thể hiện sự quan tâm, tri ân của Đảng và Nhà nước đối với người chịu ảnh hưởng của chiến tranh, đồng thời phù hợp với chủ trương “mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước” tại Nghị quyết số 27-NQ/TW.
- Bổ sung người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người nhằm thực hiện toàn diện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước;
- Bổ sung người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai, hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này;
- Bổ sung cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
- Bổ sung “Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý” nhằm nội luật hóa cam kết về bảo đảm quyền được TGPL trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên theo đúng quy định của Luật Điều ước quốc tế . Theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì người nước ngoài là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam. Như vậy, quy định này thống nhất với điểm đ khoản 1 Điều 37 Luật Phòng, chống mua bán người có quy định về quyền được TGPL của người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.
- Bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật vì các lý do sau: Đây là nhóm đối tượng đặc thù về nhân thân hoặc bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần (nhóm người bị nhiễm chất độc da cam và người khuyết tật). Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng những người này không nhiều; số lượng thân nhân người có công và người nhiễm chất độc da cam cũng đang giảm dần theo thời gian. Việc quy định những nhóm này được TGPL mà không yêu cầu điều kiện “có khó khăn về tài chính” là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các chính sách tri ân người có công, thân nhân người có công của Đảng, Nhà nước, cũng như chủ trương “mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước” tại Nghị quyết số 27-NQ/TW. Việc quy định TGPL cho người khuyết tật, không giới hạn ở điều kiện có khó khăn về tài chính phù hợp kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Đảng uỷ Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật. Mở rộng TGPL cho tất cả người thuộc hộ cận nghèo; người hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng là người nhiễm HIV, người cao tuổi, người bị bạo lực gia đình trong vụ việc bạo lực gia đình.
1. Tác động đối với hệ thống pháp luật:
- Phù hợp với Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về “mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước”.
- Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các Luật khác như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Điều ước quốc tế…
- Tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là quyền của người khuyết tật.
- Có thể phát sinh nhu cầu cần sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết về cơ chế, trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan có liên quan, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng tổ với các tổ chức thực hiện TGPL.
2. Tác động kinh tế - xã hội:
- Mở rộng diện người được TGPL góp phần nâng cao khả năng tiếp cận công lý, cải thiện an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ pháp lý.
- Giúp giảm khiếu kiện, tranh chấp, tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp, hành chính. Khi quyền tiếp cận pháp luật được mở rộng, niềm tin của người dân vào thể chế, pháp luật và chính quyền được củng cố, từ đó tạo môi trường xã hội ổn định, thuận lợi cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh; nâng cao uy tín quốc gia trong bảo vệ quyền của nhóm yếu thế.
- Ngân sách nhà nước chi cho TGPL tăng lên, nhất là trong 3-5 năm sau khi Luật có hiệu lực. Tuy vậy, xét về lâu dài, khi ý thức pháp luật tăng, văn hóa tuân thủ pháp luật được chú trọng, kinh tế xã hội phát triển thì số lượng người thuộc diện TGPL yêu cầu TGPL trên thực tế giảm đi. Ví dụ, số lượng người nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người nhiễm chất độc da cam…giảm dần. Thêm vào đó, không phải tất cả những người thuộc diện TGPL đều có vướng mắc pháp luật và yêu cầu TGPL. Vì vậy, việc mở rộng các nhóm đối tượng này góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bền vững đất nước.
Theo ước tính, khi sửa đổi, bổ sung diện người được trợ giúp pháp lý sẽ phát sinh khoảng 11.000 vụ việc/năm. Hiện có hơn 1.900 người thực hiện TGPL, như vậy trung bình mỗi người thực hiện TGPL đảm nhận thêm khoảng gần 6 vụ/năm/người, không yêu cầu bổ sung người thực hiện TGPL hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Hiện nay kinh phí chi trả vụ việc TGPL là 2,8 triêụ/vụ. Do đó, ước tính kinh phí chi trả thực hiện số vụ việc này là khoảng 33 tỷ đồng/năm (trung bình gần 1 tỷ đồng/tỉnh/năm). Đây là chi phí trực tiếp cho thực hiện TGPL (chi trả thù lao cho luật sư, người thực hiện TGPL lý khác, chi phí đi lại, công tác phí…), không phát sinh chi phí hành chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chi phí gián tiếp khác.
Trong 8 năm qua, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng khoảng 2,5 lần, trong khi kinh phí ngân sách nhà nước chi cho công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) chỉ tăng khoảng 1,7 lần, tương ứng khoảng 105 tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ gia tăng chi ngân sách cho TGPL còn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung. Trong bối cảnh quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao (tăng 8,23% trong quý III/2025), Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khối ASEAN Với tiềm lực tài chính ngày càng được củng cố, Nhà nước hoàn toàn có khả năng cân đối, bố trí và tăng cường nguồn lực để đáp ứng yêu cầu mở rộng diện người được trợ giúp và các lĩnh vực trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, qua đó bảo đảm thực hiện hiệu quả chính sách “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
3. Tác động về giới:
- Việc sửa đổi Điều 7 không đề cập đến các quy định liên quan đến bình đẳng giới. Tuy nhiên chính sách mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý sẽ tác động tích cực đến phụ nữ và nam giới ở các nhóm khác nhau. Nữ giới là nhóm chịu ảnh hưởng nhiều trong các vụ bạo lực gia đình, mua bán người, bị hại trong các vụ án hình sự... Việc mở rộng phạm vi TGPL cho nhóm đối tượng này giúp giảm áp lực cho nhiều phụ nữ, tăng khả năng tiếp cận pháp lý, bảo đảm bình đẳng giới thực và bảo vệ nhóm yếu thế.
4. Tác động đối với thủ tục hành chính:
- Có thể làm tăng số lượng hồ sơ yêu cầu TGPL và hồ sơ vụ việc TGPL cần giải quyết. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình, thủ tục yêu cầu TGPL, thụ lý và giải quyết vụ việc TGPL để tạo thuận lợi cho cả người yêu cầu TGPL và người thực hiện TGPL.
- Các cơ quan, đặc biệt là các cơ quan tố tụng, chủ động giới thiệu đối tượng đến TGPL. Điều này có thể làm tăng thủ tục phối hợp hành chính nhưng quan trọng là tăng tính bảo đảm quyền con người.
- Tăng khối lượng quản lý, theo dõi, thống kê của các tổ chức thực hiện TGPL, đặc biệt là các Trung tâm TGPL nhà nước.
Phan Thu Hà
Trưởng phòng Quản lý Trợ giúp pháp lý, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý